4.3 Porphyta (Rong mứt)
Spoiler: click to toggle Ngành Rhodophyta Lớp Rhodophyceae Bộ Bangiaceae Họ Bangiales Chi Porphyra 4.3.1 Thành phần dinh dưỡng
Spoiler: click to toggle +Chứa thành phần chất đạm rất cao, chứa rất nhiều khoáng chất, các nguyên tố vi lượng và các loại vitamin, trong đó nổi bật là nguyên tố vi lượng iốt (iốt rất cần thiết cho tuyến giáp, để sinh tổng hợp hóc-môn thyroxin cho cơ thể, trẻ thiếu iốt sẽ bị chứng đần độn (cretinism), người lớn nếu thiếu iốt sẽ bị bướu giáp đơn), canxi với hàm lượng cao hơn trong sữa, vitamin A cao gấp 10 lần trong bơ, vitamin B2 gấp 7 lần trong trứng, vitamin C, E cao gấp nhiều lần trong rau quả.
4.3.2 Các tác động có ích
Spoiler: click to toggle +Hỗ trợ cho những ngưởi bệnh béo phì, đái tháo đường do chứa nhiều thành phần alga alkane mannitol cung cấp một lượng calo rất thấp + Phòng ngừa bệnh tăng huyết áp nhờ khả năng chống vón, chống ngưng tập tiểu cầu + Phòng ngừa các bệnh lý suy tuyến giáp do chứa nhiều Iod + Cung cấp canxi cho trẻ còi xương + Gần đây nhiều nghiên cứu khoa học Nhật Bản cho thấy rong biển còn có khả năng chống phóng xạ và thải độc.
4.3.3 3 Công nghệ sản xuất
Spoiler: click to toggle a/ Lựa chọn vị trí+ Vị trí phù hợp trồng rong mứt là nơi có đáy tương đối bằng phẳng, chất đáy là cát hoặc cát bùn. +Chọn vùng nuôi thuộc trung triều. +Dòng chảy và hoạt động sóng gió phải ở mức trung bình, không quá yếu để tránh ảnh hưởng xấu của tảo tạp và bùn đến rong nuôi trồng. + Nên chọn vùng biển giàu dinh dưỡng, hàm lượng đạm đạt trên 0,1 ppm. b/ Chuẩn bị cây giống Thu bào tử quả: –Chuẩn bị vật bám là vỏ động vật thân mềm rửa sạch. Xếp vật bám lên đáy bể đã có sẵn nước biển khử trùng với mức nước khoảng 5 cm. –Giả cây mẹ thành thục rồi lọc qua nước biển khử trùng để thu nước bào tử quả. –Tưới nước bào tử quả vào bể vật bám để bào tử quả bám lên vỏ động vật thân mềm. Ương thể bào tử quả: –Khi nảy mầm, bào tử quả hình thành thể dạng sợi, chúng có thể mọc xuyên qua vỏ động vật thân mềm. –Sau 2 tuần, vỏ động vật thân mềm được xâu thành chuỗi và được treo lên những thanh ngang trong bể lớn. Cây thuộc những vỏ ở phía trên sẽ phát triển tốt hơn do đó phải đảo các xâu vỏ 1 đến 2 lần trong 1 tháng. Cho phóng bào tử vỏ: –Cho vỏ động vật thân mềm mang thể sợi vào bể trước khi cho phóng bào tử khoảng 5 – 7 ngày. –Cho phóng bào tử vỏ bằng cách khuấy, sục khí mạnh, hạ thấp nhiệt độ xuống còn 18-20oC và thay nước. Ương bào tử vỏ: đặt 2-3 vỏ động vật thân mềm vào một túi vinyl và treo vào lưới trồng lớn. Đến lúc cây mầm phát triển cho cây giống 2-3 mm thì đem đi trồng thương phẩm. c/ Kĩ thuật nuôi trồng thương phẩm•Phương pháp lưới ngang bán cố định  +Hệ thống công trình: -Mỗi đơn vị là 1 tấm lưới 2a = 30 cm, kích thước 18 x 1,5 m2. Hai đầu tấm lưới luồn 2 ống tre dài 1,6 m. Dọc theo hai bên tấm lưới là 2 dây thừng dài 19 m. -Giữa 2 ống tre hai đầu tấm lưới có thể bố trí 3-5 ống tre tương tự song song nhằm tăng độ bền chặt của đơn vị trồng. -Tấm lưới được treo lên trên 4-5 cọc mỗi bên. Cọc thường dùng là cọc đước chôn sâu 0,5 m, chiều cao 1 m. Lưới được treo sao cho khi triều rút, lưới chỉ lộ ra trong không khí khoảng 2-5 giờ. +Kỹ thuật ra giống: -Cho 2-3 vỏ hàu mang conchocelis vào túi vinyl nhỏ rồi treo túi vào lưới trồng thương phẩm. -Sự phóng thích bào tử vỏ được kích thích bởi ánh sáng ở cường độ thấp (300 – 500 lux) và cường độ ánh sáng cao hơn (800 – 1.000 lux) giúp bào tử bám vào lưới trồng, phát triển thành rong thương phẩm. +Chăm sóc – quản lý: -Công việc chăm sóc được tiến hành hàng ngày theo những nội dung công việc dành cho phương pháp lưới ngang bán cố định. -Sau khi bào tử bám vào lưới trồng, cần giữ lưới liên tục dưới nước ít nhất 6 giờ để tránh mất nước. Trong thời gian trồng, lưới giống dễ bị các loại tảo hại mà nhất là tảo silic bám vào và phát triển trên đó. Tuy nhiên, sức chịu đựng của tảo silic đối với việc phơi khô kém hơn mầm rong mứt. Do đó, định kỳ nâng tấm lưới giống lên trong khoảng thời gian thích hợp là biện pháp hữu hiệu tiêu diệt được nhiều loài rong hại đồng thời có thể thúc đẩy sự phát triển của các tản rong mứt. •Phương pháp lưới ngang nổiNhững tấm lưới được thiết kế như đối với phương pháp lưới ngang bán cố định nhưng lưới được căng nổi nhờ hai dây phao dọc theo hai bên tấm lưới. − Đây là phương pháp trồng được sử dụng khi độ sâu vùng trồng lớn, thích hợp với những nơi có vùng trung triều hẹp, vực nước ven bờ. − Bè rong luôn chìm trong nước d/ Kĩ thuật thu hoạch và sơ chế Thu hoạch: thu rong nhiều lần trước khi tiến hành tổng thu. –Thời gian từ bào tử vỏ đến khi thu hoạch lần đầu thường là 2 tháng. Bào tử vỏ xuất hiện vào tháng 9-10, bắt đầu thu lần thứ nhất khoảng tháng 11-12, tổng thu từ tháng 3-5. –Sau lần thu thứ nhất thì cứ 15-20 ngày thu rong một lần. Trong giai đoạn sinh trưởng mạnh (tháng 12 đến tháng 3) thì cứ 7-10 ngày thu một lần. –Thu rong đạt 15-20 cm còn mầm 5-8 cm thì chừa lại. Sơ chế: –Rong sau khi thu đem rửa sạch, cắt rong và loại bỏ bàn bám –Phơi khô rong đến khi đạt độ ẩm 2% –Phân loại, đóng túi và bảo quản rong nơi khô ráo. Nhiệt độ bảo quản tốt nhất là 20oC.  4.4 Eucheuma
Spoiler: click to toggle Ngành Rhodophyta Lớp Florideae Bộ Gigartinales Họ Solieriaceae Giống Eucheuma
4.4.1 Giá trị dinh dưỡng
Spoiler: click to toggle +Glucid a. Monoza và dioza Trong rong Đỏ thường chứa các Monoza như: Galactoza và Mannoza. Galactoza ở trạng thái kết hợp với axit glyxeric tạo hợp chất không bền có thể bị chiết suất bởi alcol cao độ (> 90o). Mannoza ở dạng kết hợp với axit glyxeric và Natri tạo hợp chất MannozidoglyxeratNatri. Tregalatoza là Disaccirit quan trọng của rong Đỏ chiếm tỷ lệ 15% chất khô. b. Polysaccharide * Agar Agar là polysaccharide có trong tế bào vây trụ của rong Đỏ. Hàm lượng agar trung bình của rong Đỏ trên thế giới dao động từ 20 ( 40%. Trong khi đó thì rong Đỏ của Việt Nam chứa từ 24 ( 45% khối lượng rong khô. * Carrageenan: Carrageenan là polysaccharide có trong thành phần của loài rong Đỏ không chứa Agar. Carrageenan có tính chất tương tự Agar. Dịch keo Carrageenan có thể đông thành thạch như Agar nhưng ở nồng độ cao hơn Agar. Thạch Carrageenan có nhiệt độ nóng chảy cao hơn thạch Agar. * Furcellaran: Furcellaran là loại keo rong biển chiết suất từ rong Đỏ Furcellaria. Furcellaran có tính chất gần giống Agar nên được gọi là Agaroit. Furcellaran hòa tan ở 70oC, hàm lượng – SO3 nhỏ hơn Carrageenan. * Xilan: Xilan là dịch keo chiết suất từ các loại rong Rhodymenia, có giá trị thực phẩm. Thành phần của Xilan là đường xilose 5C bị sunfat hóa. * Itridophican: Itridophican là loại keo chiết suất từ rong Iridecan. Itridophican là loại muối Natri của este tạo bởi đường Galactose và axit sunfuric. Tính chất của nó gần giống với Carrageenan. Itridophican được dùng làm chất ổn định trong sản xuất đồ uống. * Celulose: Chiếm 8% trọng lượng khô chủ yếu của thành cây rong. * Tinh bột rong Đỏ: còn được gọi là florid chứa 96% glucose, còn lại là gốc sunfat. Florid tác dụng với Iod cho màu vàng +Protein Khác với rong Nâu, protein trong rong Đỏ chiếm tỷ lệ cao hơn. Chẳng hạn protein của Gracilaria Khánh Hòa chiếm 19,5% trọng lượng khô. Hàm lượng protein rong Đỏ trung bình đạt 20% trọng lượng rong khô. Hàm lượng protein rong Đỏ giảm dần theo vĩ độ và cao nhất vào tháng 5 đến tháng 6 trong năm. Hàm lượng protein trong rong Đỏ Việt Nam dao động trong giới hạn 5 ( 22% (Viện nghiên cứu biển Nha Trang), rong Đỏ miền bắc Việt Nam chứa 9 ( 29% protein (nhóm hóa sinh nội san nghiên cứu biển 5/1973). Hàm lượng protein trong rong Đỏ Nhật Bản khoảng 16 ( 24% trọng lượng rong khô (Kuroda, atsummura 1954), rong Đỏ của Liên Xô cũ từ 7 ( 35% (Barsitkov, 1963). Như vậy hàm lượng protein trong rong Đỏ có hướng giảm dần theo vĩ độ. +Lipit Hàm lượng lipit không đáng kể và cũng chưa có nhiều dẫn liệu nghiên cứu. Nhưng một số tác giả lại cho rằng mùi tanh của rong Đỏ là do lipit gây nên. +Sắc tố Rong Đỏ chứa các sắc tố như: Diệp lục tố (Chlorofyl), sắc tố đỏ (Caroten), sắc tố vàng (Xantophyl), sắc tố xanh lam (Phucoxyanyn). Nhìn chung sắc tố rong Đỏ kém bền hơn sắc tố rong Nâu vì vậy một số loài rong Đỏ được tẩy màu bằng phương pháp tự nhiên bằng phơi nắng. + Chất khoáng Theo Baraskov (1963) hàm lượng chất khoáng trung bình của rong Đỏ trên thế giới chiếm khoảng 20% trọng lượng khô. Rong Đỏ khô tuyệt đối của miền Bắc Việt Nam chứa khoảng 23(34% tổng lượng chất khoáng, còn rong miền Nam chứa 13,25 ( 57,63% (Hoàng Cường, Lâm Ngọc Trâm 1980). Thành phần chủ yếu của chất khoáng trong rong Đỏ là Canxi, Kali, Lưu huỳnh và hàng loạt các nguyên tố khác như: Mg, Al, Ba, Sr, Si đạt tới n.10-1% (theo hàm lượng tro). Mn, Cu, Zn, Ag, Ti đạt tới n.10-2% (theo hàm lượng tro). Co, Mo, Cr, V, Sn, Pb, N đạt tới n.10-3% (theo hàm lượng tro). Trong số chất khoáng có trong rong Đỏ thì 70 ( 80% là muối hòa tan trong nước ngọt như: NaCl, KCl, K2SO4, NaI, MgCl2, Na2CO3q, Na2SO4, MgCO3 … còn muối không hòa tan thường là muối Carbonat, Sunfat hay photphat Canxi hoặc Magiê: CaSO4, Ca3(PO4)2, CaCO3, MgCO3, Mg3(PO4)2,…Ngoài ra trong tro của rong Đỏ còn thấy: CaO, MgO, Na2O và SiO2 … (Kzeveter, 1952), (Krishna – Pilla, 1957). Hàm lượng chất khoáng phụ thuộc vào giống loài, điều kiện sống, giai đoạn sinh trưởng. Rong sống trong đầm thường có hàm lượng khoáng thấp hơn trong nước biển. + Enzyme Enzyme trong rong Đỏ được nghiên cứu khá đầy đủ và toàn diện nhất là các loại enzyme chuyển hóa gluxit. Nghiên cứu dịch chiết từ rong Hydrophyeus flaccidum, Bean và Hasid (1956) đã tìm ra hai loại enzyme oxydaza. Một loại chuyên chuyển đường đơn thành axit tương ứng như chuyển glucose thành axit gluconic... galactose thành axit galactonic … loại thứ hai chuyển đường thành ozon. Dịch chiết từ rong Rhody nenia palnata có chứa các loại enzyme thủy phân gluxit (Duncan, Manners, Ross 1956). Một số loài rong như: Polysiphonia senticuloza, Porphyra pseudolenearis, Gelidium amansii, Ceranium boydenii, Gracilaria Verrucosa, chứa enzyme catalaza (Takagi 1953). Catalaza của các loài rong có pH tối thích dao động trong khoảng 7.17 ( 8.04 và nhiệt độ tối ưu từ 5 ( 15oC (Takagi 1953). Từ dịch chiết rong Porphyra tencca, chiết tách được enzyme proteaza phân giải protein. Dựa vào sự hoạt động của proteaza cây rong trên nhiều cơ chất khác nhau, người ta xếp nó vào nhóm enzyme papain hay cathepxin (Tazawa, M.W 1953).
4.4.2 Các tác động có ích
Spoiler: click to toggle +là nguồn cung cấp chất xơ, protein và muối khoáng dồi dào +ứng dụng nhiều trong sản xuất agar, carrageenan... +ứng dụng trong công nghệ sản xuất chất màu. +Ứng dụng khác...
4.4.3 Công nghệ sản xuất
Spoiler: click to toggle a/ Lựa chọn vị tríChọn nơi có sự trao đổi nước tốt nhưng tránh được sóng gió lớn và xa nguồn nước ngọt. +Đáy cát, cát đá, có san hô càng tốt. +Với mô hình nuôi dàn bè cần chọn nơi có độ trong lớn hơn 5m. +Độ sâu ít nhất là 1m. +Độ mặn trên 30ppt. +Ít rong tạp, đặc biệt là bọn Hypnea, Laurentica, Corallina, Caulerpa, Turbinaria,… Ít địch hại như bọn cầu gai, sao biển, cá dìa,… b/ Chuẩn bị cây giống+Chọn cây rong khỏe mạnh, màu sắc tươi sáng. Nếu được thì lấy rong tại chỗ, nếu không thì phải vận chuyển. +Vận chuyển trong thời gian dài, thỉnh thoảng phải nhúng rong vào nước biển; xếp rong thoáng khí và khi đến vị trí nuôi trồng phải đưa rong vào ngay nước biển. +Sau đó, cắt rong thành từng đoạn; công việc này nên được tiến hành vào buổi sáng. Một kg rong được cắt thành 80 – 100 đoạn nhỏ, mỗi đoạn khoảng 10 – 12,5g. +Buộc từng nhánh rong vào dây giống bằng dây nhựa mềm theo kiểu thắt nơ. Nhúng cây rong mới buộc xong vào nước biển để giữ rong tươi khỏe. +Chuẩn bị vật liệu nuôi trồng: +Dây giống: có thể sử dụng các vật liệu như dây cước, dây polyethylene hoặc dây nhựa dẹp. +Dây buộc giống: dây nhựa mềm hoặc dây cước. +Vật liệu nâng đỡ: tre, cọc đước, thanh thép hoặc dây polyethylene. +Phao: có thể dùng thùng phuy, phao nhựa, phao xốp hoặc chai nhựa rỗng. c/ Các mô hình nuôi trồng+ Trồng theo phương pháp dây đơn ngang cố định: vốn đầu tư thấp, dễ thực hiện nhưng không mang tính thâm canh cao +Trồng theo phương pháp bè dây đơn.  +Phương pháp bè dây ghép d/ Chăm sóc, quản lý+Công việc chăm sóc được tiến hành hàng ngày, nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho rong sinh trưởng. -Thời điểm thích hợp nhất cho việc chăm sóc là khi nước triều xuống với phương pháp dây đơn ngang cố định và khi vùng nuôi ít sóng gió với phương pháp bè dây ngang. -Cũng cần phải chọn những phương tiện chăm sóc phù hợp với đặc trưng của từng vùng nuôi. +Các yếu tố môi trường nước phải nằm trong giới hạn thích hợp với sinh trưởng và phát triển của rong. +Vệ sinh rong +Kết hợp với vệ sinh rong là việc theo dõi, kiểm tra và tu sửa khi cần thiết hệ thống nuôi trồng. +Có biện pháp cách ly và xử lý hiệu quả khi dịch bệnh xảy ra trên rong. +Đánh bắt cá ăn rong và diệt trừ địch hại của rong trong vùng nuôi. e/ Thu hoạch và sơ chế+Thu hoạch: +Tiêu chuẩn thu hoạch: khối lượng tối thiểu cây rong là 1 kg. +Thời gian: tùy thuộc vào tốc độ tăng trưởng của cây rong trong điều kiện sinh thái đặc thù của vị trí nuôi trồng. +Tiến hành: thu toàn bộ rong và trồng lại bằng những đoạn rong mới.Những cây rong tốt nhất được giữ lại làm giống cho vụ sau. +Sơ chế: +Cây rong được rửa sạch, loại bỏ rong tạp, động vật,… Sau đó được phơi dưới ánh sáng mặt trời cho đến lúc khô, tránh bị ướt do mưa. +Nếu trời nắng, rong có thể chỉ cần phơi trong 2 – 3 ngày để đạt được độ ẩm 40%. Rong khô được bó chặt trong những túi nhựa và bảo quản nơi khô ráo trước khi chuyển đi tiêu thụ. +Hiện nay, Eucheuma được bán dưới 4 dạng: rong nguyên liệu khô, miếng nhỏ được xử lý kiềm, bột sơ chế, và carrageenan nguyên chất. Hai dạng sau đang được chuộng trong thương mại quốc tế.
|