- Posts:
- 104
- Group:
- DHTP2LT
- Member
- #215
- Joined:
- Mar 16, 2011
|
Chương IV: Chiến lược maketing cho sản phẩm
I TÌNH HÌNH KINH TẾ ĐẦU NĂM 2011
Spoiler: click to toggle Kinh tế-xã hội quý I năm 2011 nước ta diễn ra trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức. Giá các hàng hóa chủ yếu trên thị trường thế giới biến động theo chiều hướng tăng. Một số nền kinh tế lớn mặc dù vừa phục hồi sau khủng hoảng tài chính toàn cầu nhưng đang tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro và bất ổn. Ở trong nước, lạm phát tăng cao, thời tiết diễn biến phức tạp, dịch bệnh tiếp tục xảy ra trên cây trồng vật nuôi. Những yếu tố bất lợi trên tác động mạnh đến hoạt động sản xuất kinh doanh và ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống dân cư. Trước tình hình đó, Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã và đang lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt các ngành, các cấp, các địa phương tập trung nỗ lực thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, trọng tâm là kiềm chế lạm phát, từng bước tạo điều kiện và môi trường thuận lợi thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển, góp phần cải thiện đời sống dân cư. 1. Sản xuất công nghiệp Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 3/2011 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 14,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước tăng 3,6%; khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng 17,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 16,8%. Tính chung quí I năm nay, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước tăng 5,5% (Trung ương quản lý tăng 5,8%; địa phương quản lý tăng 4,3%); khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng 16,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 16,3%. Trong ba ngành công nghiệp cấp I, giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế biến quý I tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước; ngành sản xuất, phân phối điện, nước tăng 9,2%; ngành công nghiệp khai thác tăng 1,9%. Sản xuất của một số ngành công nghiệp quý I năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất đồ uống không cồn tăng 42,9%; sản xuất các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 36,5%; sản xuất đồ gốm, sứ không chịu lửa (trừ gốm sứ dùng trong xây dựng) tăng 31,1%; sản xuất sắt, thép tăng 23,5%; sản xuất trang phục (trừ quần áo da lông thú) tăng 20,5%; sản xuất sợi và dệt vải tăng 20,1%; sản xuất đường tăng 19,9%; sản xuất phân bón và hợp chất ni tơ tăng 19%; sản xuất giày, dép tăng 18,2%; sản xuất bia tăng 18%. Một số ngành công nghiệp có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước là: Sản xuất mô tô, xe máy tăng 9,7%; chế biến, bảo quản thủy sản và sản phẩm từ thủy sản 9,4%; sản xuất, tập trung và phân phối điện tăng 9,1%; sản xuất xi măng tăng 9,1%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm là: Sản xuất thuốc lá 6,9%; sản xuất cáp điện và dây điện có bọc cách điện tăng 5,9%; sản xuất bột giấy, giấy và bìa tăng 3,6%; khai thác dầu thô và khí tự nhiên tăng 1,6%; khai thác, thu gom than cứng tăng 1%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế giảm 0,9%; chế biến và bảo quản rau quả giảm 7,4%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 13,7%. Trong sản xuất công nghiệp quí I năm nay, nhiều sản phẩm chủ yếu đạt sản lượng tăng cao so với cùng kỳ năm trước, trong đó bình đun nước nóng tăng 81,9%; khí hoá lỏng tăng 38,8%; sữa bột tăng 19,5%; xe chở khách tăng 19,2%; đường kính tăng 18,2%; máy giặt tăng 17,7%; giầy thể thao tăng 17,5%; quần áo người lớn tăng 17,3%; vải dệt từ sợi tổng hợp tăng 16,8%; thuỷ hải sản chế biến tăng 14,4%. Một số sản phẩm có sản lượng tăng khá là: Sơn hoá học tăng 12,3%; phân hoá học tăng 11,1%; xe máy tăng 9,8%; bia tăng 9,5%; xi măng tăng 9,4%; điện sản xuất tăng 9,3%; giấy bìa tăng 8,3%. Một số sản phẩm có sản lượng tăng thấp hoặc giảm là: Nước sạch tăng 7,6%; thuốc lá tăng 6,8%; thép tròn tăng 3,9%; lốp ô tô máy kéo tăng 3,8%; giày, dép, ủng bằng da giả tăng 3,8%; kính thủy tinh tăng 2,7%; dầu thô khai thác tăng 2,2%; dầu thực vật tinh luyện tăng 2,1%; khí đốt thiên nhiên dạng khí tăng 1,3%; vải dệt từ sợi bông tăng 0,2%; than đá khai thác tăng 0,1%; xà phòng giặt giảm 0,8%; gạch lát ceramic giảm 0,9%; gạch xây bằng đất nung giảm 1,6%; ti vi các loại giảm 7,7%; tủ lạnh, tủ đá giảm 16,9%; ô tô tải giảm 21,9%; điều hoà nhiệt độ giảm 55,3%. Chỉ số tiêu thụ sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hai tháng đầu năm 2011 tăng 18,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số ngành sản xuất có chỉ số tiêu thụ tăng cao là: Sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 59,5%; đồ uống không cồn tăng 52,1%; đồ gốm, sứ xây dựng không chịu lửa tăng 36,1%; sắt, thép tăng 30,2%; xe có động cơ tăng 30,1%; các sản phẩm bơ, sữa tăng 28,9%. Một số ngành sản xuất có chỉ số tiêu thụ sản phẩm tăng khá là: Xay xát, sản xuất bột thô tăng 16,3%; giày, dép tăng 14,4%; các sản phẩm khác từ plastic tăng 14,1%; phân bón và hợp chất nitơ tăng 12,9%; giấy nhăn và bao bì tăng 12,2%; sợi và dệt vải tăng 11,9%; thức ăn gia súc tăng 11,3%; chế biến, bảo quản thủy sản tăng 11%; xi măng tăng 11%. Một số ngành sản xuất có chỉ số tiêu thụ sản phẩm tăng chậm hoặc giảm là: Bột giấy, giấy và bìa tăng 9,2%; mô tô, xe máy tăng 9%; bia tăng 4,4%; thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 1,7%; chế biến và bảo quản rau quả giảm 11,3%. Chỉ số tồn kho tại thời điểm 01/3/2011 của toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,8% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp là: Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 11,2%; sản xuất sản phẩm bơ, sữa tăng 7,5%; sản xuất các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 7,3%; sản xuất gạch ngói và gốm, sứ xây dựng không chịu lửa tăng 7,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 4,7%; sản xuất sắt, thép tăng 2,5%; sản xuất phân bón và hợp chất ni tơ tăng 0,9%; sản xuất giấy nhăn và bao bì tăng 0,1%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao là: Sản xuất mô tô, xe máy tăng 359,9%; sản xuất đồ uống không cồn tăng 246,5%; sản xuất bia tăng 85,1%; sản xuất đồ gốm, sứ không chịu lửa (trừ gốm sứ dùng trong xây dựng) tăng 84,1%; chế biến bảo quản thủy sản và sản phẩm từ thủy sản tăng 42,5%. Sản xuất công nghiệp quí I mặc dù gặp một số khó khăn nhưng nhìn chung vẫn duy trì mức tăng khá nên số lao động trong ngành tương đối ổn định. Theo kết quả điều tra lao động của 4221 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, số lao động tháng Ba của của các doanh nghiệp trên tăng 1% so với tháng trước, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 0,1%, khu vực ngoài nhà nước tăng 1% và khu vực FDI tăng 1,6%. Trong ba ngành công nghiệp cấp I, lao động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,2%; ngành công nghiệp khai thác giảm 0,2%; ngành điện, nước biến động ít. Cũng theo kết quả điều tra trên, biến động lao động công nghiệp tháng Ba so với tháng trước của một số tỉnh, thành phố có quy mô công nghiệp lớn như sau: Hải Dương tăng 2,9%; Bắc Ninh tăng 5,3%; Vĩnh Phúc tăng 0,7%; Đồng Nai tăng 1,5%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 1%; Đà Nẵng tăng 0,5%; Hà Nội giảm 0,2%; Bình Dương tăng 1,9%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 1,9%; Hải Phòng tăng 1,1%. 2. Chỉ số giá tiêu dùngChỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2011 tăng 2,17% so với tháng trước. Trong các nhóm hàng hóa và dịch vụ, hai nhóm có chỉ số giá tăng cao hơn nhiều mức tăng chung là: Giao thông tăng 6,69%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 3,67%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá thấp hơn mức tăng chung nhưng cao hơn 1% là: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,98% (Lương thực tăng 2,18%, thực phẩm tăng 1,57%, ăn uống ngoài gia đình tăng 3,06%); thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,22%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá bằng hoặc dưới mức 1% gồm; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,0%; văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,98%; giáo dục tăng 0,9%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,88%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,71%; bưu chính viễn thông tăng 0,02%. Chỉ số giá tiêu dùng có xu hướng tăng dần và ở mức cao trong ba tháng đầu năm. Tháng Ba thường là tháng sau Tết Nguyên đán nên thị trường giá cả không tăng so với tháng trước, nhưng chỉ số giá tháng Ba năm nay cao hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ của 5 năm trở lại đây, và gần bằng mức 2,99% của năm 2008, năm lạm phát tăng cao ở hầu hết các nền kinh tế trên thế giới.  Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2011 tăng 6,12% so với tháng 12/2010; tăng 13,89% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I năm nay tăng 12,79% so với bình quân cùng kỳ năm 2010. 3. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm Theo báo cáo sơ bộ, trong ba tháng đầu năm, cả nước có 274 trường hợp mắc cúm A (H1N1) (5 trường hợp tử vong); 8,4 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (6 trường hợp tử vong); 1,5 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan virút ; 64 trường hợp mắc bệnh thương hàn và chưa ghi nhận trường hợp nào mắc cúm A (H5N1). Trong tháng 3/2011, đã có 699 trường hợp nhiễm HIV được phát hiện thêm, nâng tổng số người nhiễm HIV trong cả nước tính từ ca phát hiện đầu tiên lên 235,1 nghìn người, trong đó 94,2 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 49,8 nghìn người đã tử vong do AIDS. Tình trạng vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn là vấn đề gây nhiều lo lắng cho người dân. Riêng trong tháng Ba đã xảy ra ba vụ ngộ độc thực phẩm tập thể tại các tỉnh Thanh Hóa, Kon Tum và Trà Vinh làm 295 người bị ngộ độc. Trong ba tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 17 vụ ngộ độc thực phẩm làm 1401 người bị ngộ độc, trong đó 4 trường hợp tử vong. II. TÌNH HÌNH DÂN SỐ VIỆT NAM HIỆN NAY
Spoiler: click to toggle Tổng cục Thống kê vừa cho biết: Dân số trung bình cả nước năm 2010 ước tính 86,93 triệu người, tăng 1,05% so với năm 2009, bao gồm dân số nam 42,97 triệu người, chiếm 49,4% tổng dân số cả nước, tăng 1,09%; dân số nữ 43,96 triệu người, chiếm 50,6%, tăng 1%. Trong tổng dân số cả nước năm 2010, dân số khu vực thành thị là 26,01 triệu người, chiếm 29,9% tổng dân số, tăng 2,04% so với năm trước; dân số khu vực nông thôn là 60,92 triệu người, chiếm 70,1%, tăng 0,63%. Tỷ lệ giới tính của dân số năm 2010 ở mức 97,7 nam trên 100 nữ. Năm 2009, tỷ lệ này là 97,6/100
III. KHẢO SÁT THỊ TRƯỜNG
Spoiler: click to toggle Bảng khảo sát một số sản phẩm nước giải khát hiện có trên thị trường  IV. CHIẾN LƯỢC CHO SẢN PHẨM
Spoiler: click to toggle 4.1 Đặc điểm và lợi ích chính Sản xuất nước giải khát được trích ly từ lá sake kết hợp với vị ngọt của cỏ ngọt tạo nên hương vị hài hòa khó nhầm lẫn với các thức uống khác. Sản phẩm dễ uống phù hợp với hầu hầu hết người tiêu dùng. Trong lá sake có chứa polyphenols có nhiều tác dụng tốt đối với sức khỏe, hạn chế khả năng ung thư, ngoài ra cỏ ngọt có đô ngọt tự nhiên không chứa năng lượng phù hợp với người bị tiểu đường. Giá thành không cao so với các đồi thủ cạnh tranh. 4.2 Tên thương hiệu Tên cần phải có tính độc đáo, hoặc đơn giản, rõ ràng, gây được ấn tượng, dễ đọc, dễ phát âm. Tên phải có sự hài hòa với logo. Công ty TNHH Hài Hòa Địa chỉ : Số 12 đường Nguyễn Văn Bảo Phường 4 Quận Gò Vấp TPHCM Thương Hiệu : Sake Logo Phải có tín hiệu nhận biết, và tượng trưng, phải có tính tác động mạnh đến thị giác của công chúng, có tính chất cố định.  4.3 Label (nhãn hiệu) Phải có hình sản phẩm kèm theo hình nguyên liệu Màu chuẩn mực Màu tượng trưng cho công ty, phải có tác dụng quan trọng trong việc kiến tạo ấn tượng. Phải tính nổi bật giữa công ty này so với công ty khác. Phải tính nổi bật giữa sản phẩm này so với sản phẩm khác. Đề xuất màu xanh của lá sake, nâu đỏ của dịch lá vì nó tạo được ấn tượng cao, cuốn hút. Nội dung ghi trên nhãn : Nhà sản xuất :Công ty TNHH Hài hòa Brand : Sake Thành phần : Lá sake, cỏ ngọt, đường, acid citric, nước Hướng dẫn sử dụng : Ngon hơn khi uống lạnh Hướng dẫn bảo quản : Bảo quản nơi khô ráo thoáng mát Ngày sản xuất : In trên bao bì Hạn sử dụng : In trên bao bì Nhãn thiết kế :  4.4 Bao bì Bao bì Bao bì đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, độ an toàn vi sinh, hóa học của thực phẩm, đồng thời có khả năng quảng cáo cho thực phẩm. 4.4.1 Yêu cầu của bao bì Không gây độc hại cho thực phẩm, không làm cho thực phẩm bị biến đổi về mặt chất lượng. Bền đối với tác dụng của thực phẩm. Chịu được nhiệt độ và áp suất cao. Truyền nhiệt tốt, chắc chắn, nhẹ. Dễ gia công, rẻ tiền. Hình thức hấp dẫn, phù hợp với sản phẩm. Sử dụng, vận hành, bảo quản tiện lợi. Bao bì cho sản phẩm Sử dụng bao bì thủy tinh và bao bì trùng hợp vì các tính năng ưu việt và phù hợp với sản phẩm như: 4.4.2 Bao bì thủy tinh Bao bì thủy tinh được ứng dụng nhiều trong sản xuất nước uống do Bao bì thủy tinh có độ bền hóa học tốt thích ứng với pH thấp trong nước uống, không rỉ sét. Không dẫn điện, nhiệt độ nóng chảy cao 1400 – 1500oC. Chống thoát hơi và sự thâm nhập hơi nước, các loại vi khuẩn. Hình thức bao bì đẹp, dễ ghép nắp. Dễ ghép nắp. Có khả năng quảng cáo cho sản phẩm. Giá thành rẻ do có thể tái sử dụng trong sản xuất. Tuy nhiên bao bì thủy tinh có nhược điểm là khả năng truyền nhiệt thấp, làm tăng chi phí thanh trùng, nặng, không linh hoạt, dễ vỡ khi vận chuyển, khó tạo dáng, bị ánh sáng xuyên qua. Với đề tài này sử dụng bao bì thủy tinh do thủy tinh trơ với tác dụng của thực phẩm, có độ trong suốt cao, hình thức đẹp, khách hàng có thể nhận thấy được màu sắc của thực phẩm, có thể tái sử dụng được và đặc biệt là dễ mua. Loại chai thủy tinh được sử dụng có dung tích 500ml, 330ml, 250ml, 180ml. 4.4.3 Bao bì trùng hợp(plastic bot) Những ưu việt của vật liệu trùng hợp là: + Chắc chắn, độ bền hóa học cao. + Bền nhiệt,không bị biến tính trong trường hợp bảo quản ở thâm độ + Ngoài ra còn sử dụng phổ biến trong nhiều loại sản phẩm, dễ thiết kế kiểu dáng, mầu mã hay có thể đóng sản phẩm bằng các máy tự động. + Giá thành rẻ Công dụng: + Dùng trong công nghiệp đồ hộp. + Dùng cho các sản phẩm lỏng, bột nhảo không thanh trùng như sữa, các loại mứt (dẻo, mịn),.. + Dùng cho các sản phẩm đặc như quả, hạt mì ống,… V. CHIẾN LƯỢC VỀ GIÁ
Spoiler: click to toggle Chính sách được xây dựng dựa vào chi phí sản xuất có tính đến giá cạnh tranh, phù hợp với từng vùng lãnh thổ, và đảm bảo sức mua. Thực hiện chính sách giá ổn định nhằm đảm bảo lợi nhuận và niềm tin của khách hàng. Giá bán được xây dựng trên cơ sở tiết kiệm nguyên nhiên liệu sản xuất chống lãng phí và hợp lý hóa thời gian làm việc nhằm gia thiểu chi phí, hạ giá thành. Giá nguyên liệu: Lá sake: 20000 kg Cỏ ngọt: 70000 kg Đường: 22000 kg Acid citric: 27000 kg Để tạo ra 800ml sản phẩm: (từ 1 lít nước) 12g sake: 240 đồng 1g cỏ ngọt:70 đồng Đường bx 85: 2500 đồng Acid citric12%: 3.52ml :14.31 đồng Tiền gas :2000 đồng Tổng chi phí: 240+70+2500+14.31+2000=4824 đồng/800ml Giá thành dự kiến (khi đã khấu hao tiền nhân công, điện nước): 8500 đồng/800ml Giá sản phẩm phù hợp với người tiêu dùng, có thể cạnh tranh với các sản phẩm nước giải khát trên thị trường.
VI. CHIẾN LƯỢC QUẢNG CÁO
Spoiler: click to toggle 6.1 Khách hàng mục tiêu Hướng tới những người tiêu dùng quan tâm đến lợi ích của sản phẩm đối với sức khỏe (giới trẻ, nhân viên văn phòng, giới trung niên) và tính tiện lợi của sản phẩm trong đời sống. Thị trường tiêu thụ tiềm năng: những nước có nền kinh tế phát triển. Những người có thu nhập từ trung bình đến khá. Khách hàng (người tiêu dùng nghĩ gì về nước giải khát chiết xuất từ tự nhiên)? Nước giải khát có gì khác với những sản phẩm khác trên thị trường không? Nó có những tính năng gì? Giá thành như thế nào đối với các sản phẩm khác? Chương trình bán hàng, khuyến mãi,… có tốt không? Các lợi ích thuyết phục họ Cung cấp cho cơ thể những lợi ích về sức khỏe. Sản phẩm được sản xuất đạt chất lượng về vệ sinh an toàn thực phẩm. Giá thành không cao so với đối thủ cạnh tranh. Hợp khẩu vị của người tiêu dùng. Giao hàng tận nơi. Có khuyến mãi, và quà tặng kèm theo sản phẩm. Đây là sản phẩm được trích ly trực tiếp từ lá. Vậy nên nó vừa mang tính giải khát, vừa mang đến sự tiện dụng khi sử dụng mà không cần nấu. 6.2 Truyền thông thương hiệu và Xúc tiến bán hàng Xây dựng và quảng bá thương hiệu không chỉ là hoạt động diễn ra bên ngoài công ty mà nó còn là hoạt động cần thiết phải được thực hiện bên trong tổ chức của thương hiệu đó, có như vậy mới tạo được sức mạnh tổng hợp giữa truyền thông bên ngoài và truyền thông nội bộ. Muốn đạt được mục tiêu nói trên thì bản thân mọi thành viên trong tổ chức phải thực sự thông hiểu đầy đủ, đồng thời có khả năng diễn đạt được vị trí, giá trị và bản sắc của thương hiệu. Song song đó cần phải thúc đẩy và khuyến khích mỗi cá nhân là đại sứ cho thương hiệu, bởi lẽ hơn ai hết họ là những con người thường xuyên gặp gỡ, tiếp xúc, trò chuyện với khách hàng, nhà cung ứng và đối thủ cạnh tranh. Ngoài ra họ cũng là người tiếp xúc với nhiều đối tượng khách hàng tiềm năng khác nhau dựa trên mối liên hệ cá nhân như: bạn bè và người thân. Chính vì vậy, công ty cần phải đào tạo và huấn luyện (nội bộ hoặc bên ngoài) để họ trở thành những đại sứ thương hiệu tốt nhất của công ty. Để hoạt động truyền thông thương hiệu nội bộ đạt được hiểu quả và tác động tích cực thì đòi hỏi ban lãnh đạo công ty phải là những người tiên phong, tuyên truyền về thương hiệu để làm gương cho tất cả cán bộ công nhân viên trong toàn công ty. Các hoạt động truyền thông nội bộ có thể biểu hiện chính thức – các buổi/khóa đào tạo hoặc không chính thức qua các hoạt động giao lưu nội bộ, các sự kiện nội bộ… Công ty cần triển khai ngay việc trang bị đồng phục cho cả khối văn phòng và lực lượng bán hàng ngoài thị trường, áp dụng đeo thẻ nhân viên trong thời gian làm việc… để tạo ra hình ảnh và tác phong chuyên nghiệp ngay từ trong nội bộ. 6.3 Quảng cáo trên truyền hình Tạo sự nhận thức về hình ảnh công ty, thương hiệu, tạo ra nhu cầu mới cho sản phẩm thông qua dạng phim phóng sự 10 - 15 phút và quảng cáo 30 giây. Đây là một trong hai kênh nhận biết chủ yếu của khách hàng mục tiêu. Quảng cáo trên báo in: Mục tiêu của quảng cáo báo là để tiếp cận và truyền tải thông điệp, nhằm tăng cường sự nhận biết và lòng tin về hình ảnh thương hiệu đến nhóm khách hàng mục tiêu không có thời gian hoặc không có cơ hội nhìn thấy quảng cáo qua kênh truyền hình với nhiều lý do khác nhau (tức để tăng độ reach). Thể hiện: dưới 2 hình thức: Các loạt bài PR. Quảng cáo nguyên trang màu hoặc ½ trang trên các tạp chí. Các loạt bài PR: cho ra các bài báo về tình hình thị trường nước giải khát đóng chai tại Việt Nam và các khuyến cáo về tác hại của việc sử dụng các sản phẩm nước uống kém chất lượng. Bên cạnh các bài phỏng vấn các bác sĩ về lợi ích của việc sử dụng nước giải khát từ tự nhiên nhưng phải được đóng chai trên các loại bao bì không phát sinh độc tố. Đăng quảng cáo trên các trang báo tuổi trẻ, tiếp thị gia đình,.. Lời quảng cáo báo : “ Hãy tận hưởng hương vị từ sản phẩm “nước sake” mang lại, bạn sẽ tìm thấy sự mát dịu và ngon lành” 6.4 Quảng cáo trên internet Internet được xem là một trong những phương tiện truyền thông trực tuyến được rất nhiều doanh nghiệp ngày nay sử dụng như là một công cụ quảng bá hiệu quả với chi phí thấp. Điểm nổi bậc của phương tiện quảng cáo này là nó đã sang bằng khoảng cách về thời gian, không gian. Nhân viên văn phòng, giới trẻ sử dụng thực phẩm tiêu dùng nhanh với tỷ lệ rất thường xuyên nhờ vào tính tiện lợi của nó nhất là vào mùa nắng hay những lúc công việc nhiều. Bên cạnh đó đây chính là những đối tượng tiếp cận thuờng xuyên với internet cho nên rất phù hợp để công ty triển khai các hình thức quảng cáo qua internet. Ngoài ra, họ có thể truyền thông tin đến những người thân trong gia đình và những người xung quanh. 6.5 Quảng cáo ngoài trời Để củng cố thương hiệu và tạo sức cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường, đặc biệt là thời gian sau khi tung sản phẩm Chiến dịch panô – billboard quảng cáo được đề nghị sẽ là một kênh tiếp thị hỗ trợ cho truyền hình. Đặt Poster ở một số nơi có tỉ lệ người nhiều nhất như: Đặt poster và banner trước cổng hệ thống các siêu thị. Quảng cáo ở nhà hàng, khách sạn, trên xe buýt, và trạm xe buýt,… 6.6 Quảng cáo trên radio Thời lượng: 30s. Đài phát sóng: FM 99,9 MHz. Thời gian phát: 19h – 22h. Số lần phát: 10 lần trong một ngày, xen kẽ giữa những chương trình phát sóng khác. Lời quảng cáo radio : “Nước giải khát Sake - cỏ ngọt” rất tốt cho sức khỏe của bạn và những người mà bạn thương yêu nhất. Sản phẩm là sự lựa chọn tốt nhất của bạn. Hãy mua ngay để có cơ hội được nhận những phần quà khuyến mãi hấp dẫn. Chương trình chỉ áp dụng từ ngày …đến ngày…. Hãy nhanh chân lên số lương có hạn. Sản phẩm đã có mặt trên các cửa hàng, hệ thống siêu thị.
6.7 Phát tờ rơi Ở trước cổng trung tâm thể dục thể thao, cổng một số siêu thị. Tại các nhà hàng, khách sạn, quán bar, trung tâm giải trí. Tại các đèn giao thông… 6.8 Quảng cáo trực tiếp tại điểm bán hàng Giữa thương hiệu và khách hàng mục tiêu của nó cần có nhiều sự tương tác trực tiếp thì công tác quảng bá thương hiệu ngày càng hiệu quả (nếu triển khai tốt). Vì vậy, quảng cáo trực tiếp tại điểm bán là một trong những phương thức quảng bá thương hiệu có ý nghĩa rất quan trọng, nó làm tăng khả năng tiếp cận của thương hiệu (sản phẩm) đối với khách hàng mục tiêu, đặc biệt nó tác động trực tiếp đến hành vi mua hàng tại điểm bán của người tiêu dùng đối với các sản phẩm của ngành hàng tiêu dùng nhanh: thực phẩm, đồ uống… Các hình thức của quảng cáo trực tiếp được đề xuất triển khai như sau: 6.8.1 Tổ chức cho dùng thử sản phẩm Nhằm mục đích tạo cơ hội cho khách hàng dùng thử và trải nghiệm sản phẩm trước khi quyết định mua hàng, hoạt động này rất cần thiết cho các sản phẩm mới tung ra lần đầu và/hoặc cải tiến chất lượng, công thức mới… Địa điểm thực hiện: TP.HCM và Hà Nội: tổ chức tại các hệ thống siêu thị có lưu lượng khách hàng đông đúc như Hệ thống siêu thị Sài Gòn Co.opmart, Hệ thống siêu thị Maxi Mark, Hệ thống siêu thị Big C và các chợ trung tâm. Các tỉnh lớn: tổ chức tại các chợ trung tâm thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh. 6.8.2 Trưng bày tại siêu thị (kênh hiện đại) Mục đích của việc trưng bày là nhằm tạo sự hấp dẫn, lôi kéo sự chú ý, tạo động lực mua hàng của khách hàng, nâng cao giá trị của sản phẩm. Kỹ thuật thực hiện là thuê các đầu kệ tại khu thực phẩm để trưng bày và trang trí theo chủ đề của từng sản phẩm và chiến dịch truyền thông, luân phiên trưng bày giữa các dòng sản phẩm nước giải khát với thời gian ít nhất là một tháng cho mỗi đợt trưng bày và thời gian thuê kệ tối thiểu là sáu tháng; tại mỗi siêu thị có thuê kệ trưng bày nên có một nhân viên tư vấn – giới thiệu sản phẩm cho khách hàng. Nên tập trung vào các hệ thống siêu thị như sau: TP.HCM: Hệ thống siêu thị Sài Gòn Co.opmart, Hệ thống siêu thị Maxi Mark, Hệ thống siêu thị Big C, Hệ thống Citi Mart. Hà Nội: Hệ thống Big C, Hệ thống siêu thị Hapro, Hệ thống siêu thị Fivimart, Hệ thống siêu thị Intimex. 6.8.3 Trưng bày tại các cửa hiệu bán lẻ (kênh truyền thống) Nhằm tạo ra hình ảnh rõ ràng và nổi bậc của thương hiệu và sản phẩm, nhằm thu hút sự chú ý ngay lần đầu tiên của khách hàng khi đến mua hàng tại cửa hiệu, hình ảnh trưng bày sẽ tác động trực tiếp đến hành vi mua hàng của khách hàng ngay tại điểm bán, mặt khác việc trưng bày sẽ kích thích chủ cửa hàng mua hàng nhiều hơn và nhiệt tình giới thiệu sản phẩm cho khách khi đến mua hàng (vì chủ cửa hàng được trả thưởng tiền trưng bày). Kỹ thuật thực hiện là trưng bày theo từng chủng loại sản phẩm (theo từng mùi vị và qui cách bao bì) với số lượng và diện tích trưng bày tối thiểu là 01 thùng carton. Đối với các cửa hiệu lớn, nên có một nhân viên (thuê theo từng đợt trưng bày) để tư vấn – giới thiệu sản phẩm cho khách hàng. Đây cũng là cách thu hút sự chú ý của khách hàng đến mua hàng, mặt khác vừa hỗ trợ công tác bán hàng cho chủ cửa hàng; đồng thời nên thiết kế và hỗ trợ vật dụng trưng bày (kệ trưng bày). Thời gian trưng bày là 45 ngày cho mỗi đợt, khoảng cách giữa hai đợt trưng bày là 01 tháng. Trung bình một năm nên thực hiện từ 04 – 06 đợt trưng bày. 6.8.4 Hệ thống bảng hiệu quảng cáo Đây là một phương tiện quảng cáo trực tiếp tới khách hàng tại cửa hàng với chi phí thấp. Mục đích là nhắc nhớ và duy trì hình ảnh thương hiệu – sản phẩm “nước giải khát từ lá sake” tại các điểm bán hàng. Công ty nên tập trung triển khai tại thành phố lớn là TP.HCM. Để mỗi tấm bảng hiệu hoàn thành được nhiệm vụ là thu hút sự chú ý và ghi nhớ lâu trong tâm trí khách hàng khi đến cửa hàng thì kỹ thuật đồ họa trên tấm bảng nên tập trung nhấn mạnh vào thương hiệu – Logo và hình ảnh sản phẩm mang tính chất minh họa đính kèm (chai nước giải khát) với diện tích lớn, còn tên cửa hàng và địa chỉ nên thu nhỏ và bố trí ở cạnh dưới tấm bảng hiệu.
VII. CHIẾN LƯỢC KHUYẾN MÃI
Spoiler: click to toggle 7.1 Chương trình khuyến mãi cho người bán Mục đích là khuyến khích các cửa hàng bán lẻ tích cực giới thiệu và bán hàng của công ty, qua đó gia tăng lợi ích cho người bán. Vì giới thiệu của người bán là yếu tố rất quan trọng góp phần tăng độ nhận biết về sản phẩm, thương hiệu của công ty, đặc biệt là sản phẩm mới. Các hình thức khuyến mãi cho người bán: Thưởng doanh số: mỗi tháng nếu các cửa hàng bán đạt doanh số qui định sẽ thưởng tiền. Mục đích là nhằm khuyến khích người bán nhiệt tình bán sản phẩm của công ty cho người tiêu dùng (kỹ thuật hỗ trợ cửa hàng “đẩy” hàng ra khỏi quầy kệ - Push marketing). Thưởng doanh số nên áp dụng cho tất cả sản phẩm của công ty. Thưởng sản lượng: Mỗi cửa hàng khi đặt hàng đủ số lượng (tính theo thùng) trên mỗi đơn đặt hàng sẽ được thưởng thêm sản lượng của cùng chủng loại sản phẩm hoặc sản phẩm khác. Mục đích là khuyến khích người bán nhập hàng nhiều hơn để đảm bảo lượng hàng luôn có tại cửa hàng (kỹ thuật duy trì lượng hàng tồn kho tại cửa hàng đủ lớn và khi hàng nhiều thì cửa hàng sẽ phải đem hàng ra trưng bày với diện tích lớn hơn, tăng mức độ nhận biết thương hiệu). Thưởng sản lượng nên thực hiện cho từng chủng loại sản phẩm cụ thể (từng SKU – Smallest Keeping Unit) và nên áp dụng cho sản phẩm mới, sản phẩm dùng để thưởng nên là sản phẩm bán chạy nhất của công ty. Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay, các chương trình khuyến mãi cho người bán nên thực hiện thường xuyên hàng tháng (lâu nhất là 02 tháng) và luân phiên cho các dòng sản phẩm khác nhau của công ty. 7.2 Chương trình khuyến mãi cho người tiêu dùng Mục đích là thu hút sự chú ý của người tiêu dùng đối với sản phẩm và thương hiệu, qua đó gia tăng giá trị cho người tiêu dùng khi mua sản phẩm. Các chương trình khuyến mãi như sau: Chương trình khuyến mãi mang tính chất may mắn: Sản phẩm khuyến mãi: nước giải khát từ lá sake Hình thức khuyến mãi: tem may mắn trúng thưởng ngay được in trực tiếp trên nhãn sản phẩm. Đối tượng, phạm vi áp dụng: người tiêu dùng trên phạm vi cả nước. Giải thưởng: là các vật dụng trang trí trong nhà, đồ dùng thiết thực, hỗ trợ và giải phóng sức lao động, tiết kiệm thời gian cho người nội trợ như: máy giặt thế hệ mới, bếp từ hoặc lò vi ba, tủ lạnh hoặc xe gắn máy phục vụ cho việc đi chợ hàng ngày của người nội trợ… Ngân sách khuyến mãi: 10% - 12% doanh số dự báo tiêu thụ trong thời gian thực hiện khuyến mãi (khoảng 03 tháng). Trong đó: a) 30% ngân sách dùng cho giải thưởng. b) 60% ngân sách dùng cho chi phí truyền thông. c) 10% ngân sách dùng cho chi phí tổ chức (hành chánh, thủ tục pháp lý, thuê dịch vụ…) 7.3 Chương trình khuyến mãi kết hợp kích hoạt thương hiệu Mục đích: tăng cường phối hợp với các siêu thị trong việc tổ chức các chương trình phục vụ người tiêu dùng, qua đó tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa nhà sản xuất với nhà phân phối, góp phần tăng doanh số cho cả hai. Mặt khác, siêu thị là nơi thu hút và tập trung rất đông người tiêu dùng mà hầu hết họ là đối tượng khách hàng mục tiêu của công ty nên rất phù hợp để xây dựng các chương trình khuyến mãi kết hợp quảng bá thương hiệu trực tiếp tại điểm bán thông qua các hoạt động kích hoạt thương hiệu. Phạm vi áp dụng: chỉ nên tổ chức tại các hệ thống siêu thị gồm: HCM: hệ thống siêu thị Sài Gòn Coopmart, hệ thống Big C, hệ thống Maxi Mark, hệ thống Citi Mart. Hình thức thực hiện: khách hàng mua hàng với hóa đơn trị giá từ 50.000đ – 100.000đ (tùy thuộc vào giá trị sản phẩm ở từng thời điểm) sản phẩm của công ty sẽ được tham gia các trò chơi trúng thưởng với các phần quà hoặc được hoàn trả 100% giá trị tiền mua hàng. Quà tặng (giải thưởng): cũng là các vật dụng hỗ trợ công việc nội trợ, sinh hoạt hàng ngày của người nội trợ hoặc phiếu mua hàng ưu đãi của siêu thị hoặc sản phẩm của công ty. Ngân sách khuyến mãi: 15% - 20% tổng doanh số trên mỗi hóa đơn mua hàng của khách hàng (được dự báo khi xây dựng chương trình). Trong đó: a) 50% ngân sách dùng cho giải thưởng (quà tặng hoặc tiền mua hàng). b) 20% ngân sách dùng cho truyền thông hỗ trợ. c) 30% ngân sách thuê dịch vụ thiết kế chương trình và tổ chức thực hiện các hoạt động kích hoạt thương hiệu. Thời gian thực hiện: một năm tổ chức 03 đợt vào các thời điểm 30/04 – 02/9 và 01/01, độ dài mỗi đợt tổ chức là 15 ngày. Công cụ truyền thông hỗ trợ: đưa thông tin về các chương trình khuyến mãi trên các báo phụ nữ, cẩm nang mua sắm của các siêu thị, tờ bướm treo trong siêu thị, tờ rơi
VIII. DỰ ĐOÁN VÒNG ĐỜI SẢN PHẨM
Spoiler: click to toggle Bất cứ sản phẩm hay dịch vụ nào cũng sẽ thay đổi theo thời gian và đi qua bốn giai đoạn trong vòng đời gồm giới thiệu, phát triển, chín muồi và suy tàn. 8.1 Giai đoạn giới thiệu sản phẩm mới Đầu tư tốn kém: các chi phí phát triển sản phẩm liên tục, marketing và sản xuất. Chưa thu lại ngay được lợi tức. Bị thua lỗ. Thách thức marketing trong giai đoạn khởi đầu là xây dựng ý thức về sản phẩm và có nhiều người dùng thử sản phẩm nhằm mục đích tạo ra sự phát triển mạnh mẽ hơn. 8.2 Giai đoạn phát triển Tung sản phẩm ra thị trường: Giá thành cao. Lượng tiêu thụ thấp. Không hoặc rất ít tính cạnh tranh. Bị thua lỗ. Giai đoạn phát triển, gia tăng: Giảm giá thành nhờ quy mô sản xuất lớn. Lượng tiêu thụ sản phẩm tăng đáng kể. Thu được nhiều lãi. Được biết đến nhiều. Sự cạnh tranh bắt đầu xuất hiện tạo nên thị trường mới. 8.3 Giai đoạn chín muồi Chi phí rất thấp vì đã có chỗ đứng tốt trên thị trường và không cần quảng bá nữa. Lượng tiêu thụ lên đỉnh điểm. Khác biệt hóa nhãn hiệu, đa dạng hoá, vì mỗi nhà sản xuất cố tìm cách làm cho sản phẩm của mình khác với sản phẩm của các đối thủ. Lợi nhuận lớn. Giai đoạn ổn định hay thoái trào Doanh số bán hàng giảm xuống hoặc giữ ổn định. Giá bán, lợi nhuận giảm. Một sản phẩm không nhất thiết phải trải qua tất cả các giai đoạn nêu trên. Khi sản phẩm trong giai đoạn ổn định thì ta bắt đầu tung ra thị trường những dòng sản phẩm mới hay thay đổi kiểu dáng bao bì để làm mới cho sản phẩm. Có thể phát triển sản phẩm mới như: trà túi lọc từ lá sake, nước lá sake lên men,… Phân tích swot cho sản phẩm nước lá sake đóng chai: strengths – điểm mạnh Chất lượng sản phẩm cao: trích ly từ dịch lá. Đóng chai trong dây chuyền hiện đại. Bao bì đẹp và bắt mắt. Chủng loại phong phú. Nhất quán trong việc truyền đạt những thông điệp về tính cách của nhãn hiệu về tính cách của nhãn hiệu đến khách hàng. Weaknesses – điểm yếu Thương hiệu hoàn toàn mới. Hệ thống phân phối chưa có. Opportunities – cơ hội An toàn vệ sinh thực phẩm đang được cơ quan quan tâm nhiều hơn. Người tiêu dùng có xu hướng chuyển đổi thói quen sử dụng nước ngọt có gas sang nước giải khát từ tự nhiên. Sự lựa chọn thương hiệu Việt có uy tín đang là xu hướng tiêu dùng mới. Kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển. Threats – nguy cơ Cạnh tranh về giá giữa các thương hiệu dẫn đầu. Có rất nhiều thương hiệu trong cùng một phân khúc thị trường. Một vài loại sản phẩm nước giải khát có gas với chất lượng không đảm bảo có thể làm ảnh hưởng đến ngành hàng. S – O: Sử dụng công cụ quảng cáo trên các diểm tiếp cận thương hiệu: TV, Magazines, Bilboards,… để đưa được lợi ích sản phẩm đến khách hàng mục tiêu. Lý tính: trích ly từ lá cây, dây chuyền đóng chai hiện đại, và bao bì được làm bằng chất liệu an toàn cho sức khỏe,… Cảm tính: hiện đại, trẻ trung, khát khao, đam mê cuộc sống, tham vọng, thích tiện dụng và lợi ích mang lại. S – T: Sử dụng công cụ PR cho: giới thiệu và giải thích cho người sử dụng về những tác hại khi sử dụng nước uống đóng chai của các cơ sở sản xuất nhỏ không thể kiểm định được chất lượng. Giới thiệu về qui trình xử lý nước và đóng chai của sản phẩm: khép kín, thanh trùng chai và nắp chai khi đóng chai sản phẩm. Tính tiện dụng của bao bì → điểm khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh. O – W: Xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu thông qua: Bao bì sản phẩm đặc trưng. Phong cách phục vụ chuyên nghiệp. Xây dựng mối quan hệ tốt với khách hàng. Biểu tượng độc đáo. W – T: Trong giai đoạn đầu tập trung xây dựng hệ thống thương hiệu, hệ thống phân phối, tăng độ phủ sản phẩm trên thị trường thông qua các kênh truyền thông,…
IX. CÁC KÊNH PHÂN PHỐI SẢN PHẨM
Spoiler: click to toggle  Sản phẩm từ nhà sản xuất sẽ được lưu kho và phân phối đến các siêu thị trong cả nước và đến tay người tiêu dùng. Hoặc sản phẩm sẽ được chuyển đến các hệ thống đại lý bán sỉ, sau đó được chuyển tới các cửa hàng bán lẻ và đến tay người tiêu dùng. Siêu thị là nơi mua sắm tin cậy, uy tín. Với phân khúc thị trường TP.HCM thì hệ thống mạng lưới siêu thị phân bố nhiều trên phân khúc Cửa hàng tạp hóa, chợ: phân bố rộng khắp TP.HCM là nơi mua sắm phục vụ cuộc sống hàng ngày của người tiêu dùng. [/spoler] KẾT LUẬN Spoiler: click to toggle Sản phẩm nước sake được nhiều người tiêu dùng quan tâm vì một số đặc tính dược lý của nó, việc tung sản phẩm ra thị trường nhằm đáp ứng những nhu cầu hiện có và cung cấp thêm một loại thức uống mang tính chất mới lạ. Nhưng để tạo tạo chỗ đứng trên thị trường, để lan tỏa rộng khắp mọi miền và để tất cả mọi người biết đến, yêu thích và sử dụng quả thực không phải là vấn đề đơn giản. Vậy nên ngay từ ngày đầu xâm nhập thị trường thì buộc nó phải thể hiện rõ đây là sản phẩm không chỉ chất lượng mà là còn là sản phẩm an toàn, luôn hấp dẫn khách hàng. Vậy nên cùng với nhu cầu sử dụng nước giải khát ngày càng tăng và đang từng bước chuyển dần từ nước giải khát pha chế truyền thống sang sử dụng loại nước giải khát có chứa các chất dinh dưỡng như các loại: axit amin, muối khoáng, vitamin… được sản xuất từ lá, quả, rễ, ... Hi vọng rằng sản phẩm nước giải khát từ lá sake sẽ sớm trở thành sản phẩm chủ chốt trên thị trường.
|