|
Bài Hoàn Chỉnh
|
|
Topic Started: Apr 20 2011, 12:22 AM (3,155 Views)
|
|
dhtp2tlt_v.t.anhtruc_08897531
|
Apr 20 2011, 12:22 AM
Post #1
|
|
- Posts:
- 104
- Group:
- DHTP2LT
- Member
- #194
- Joined:
- Mar 8, 2011
|
Thanh Long
|
|
|
| |
|
dhtp2tlt_v.t.anhtruc_08897531
|
Apr 27 2011, 09:19 AM
Post #2
|
|
- Posts:
- 104
- Group:
- DHTP2LT
- Member
- #194
- Joined:
- Mar 8, 2011
|
Phần 1: PHÂN TÍCH LỰA CHỌN Ý TƯỞNG CHỦ ĐẠO
I. Xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm
Spoiler: click to toggle Chúng tôi là nhóm sinh viên đang thực hiện việc thiết kế phát triển sản phẩm
I.1 Lập chiến lược phát triển sản phẩm dựa vào phân tích Swot
Spoiler: click to toggle
I.2 Các mục tiêu đề ra trong việc phát triển sản phẩm
Spoiler: click to toggle Việt Nam là nước nhiệt đới, nên nguồn rau quả rất phong phú và có quanh năm, dựa vào thế mạnh này chúng tôi muốn tạo ra một sản phẩm mới nhằm góp phần làm đa dạng hóa thị trường thực phẩm và mang đến cho người tiêu dùng một sản phẩm: •Ngon •Bổ •An toàn •Tiện lợi •Rẻ Đó cũng là tiêu chí họ quan tâm hàng đầu hiện nay - Đối tượng khách hàng của chúng tôi ở mọi lứa tuổi
II.Phát triển và sàng lọc các ý tưởng II.1 Đưa ra ý tưởng
Spoiler: click to toggle
|
|
|
| |
|
dhtp2tlt_v.t.anhtruc_08897531
|
Apr 27 2011, 09:23 AM
Post #3
|
|
- Posts:
- 104
- Group:
- DHTP2LT
- Member
- #194
- Joined:
- Mar 8, 2011
|
Spoiler: click to toggle 




 Từ 50 ý kiến trên chúng tôi thảo luận và đánh giá và chọn ra ý tưởng khả thi nhất. Các ý tưởng được chon dựa trên các tiêu chí: • Nguồn nguyên liệu hiện tại • Nhu cầu gười tiêu dùng • Thị trường • Kỹ thuật • Điều kiện thí nghiệm • Thời gian • Kinh phí Sau quá trình sàn lọc và đánh giá, các thành viên quyết định đưa ra 10 ý kiến từ 50 ý tưởng ban đầu. 




|
|
|
| |
|
dhtp2tlt_v.t.anhtruc_08897531
|
Apr 27 2011, 09:33 AM
Post #4
|
|
- Posts:
- 104
- Group:
- DHTP2LT
- Member
- #194
- Joined:
- Mar 8, 2011
|
II.2 Thử nghiệm và sàng lọc 10 ý tưởng
Spoiler: click to toggle
II.3 Chọn sản phẩm
Spoiler: click to toggle Từ đây nhóm chọn ra 3 ý tưởng được đánh giá cao nhất 
|
|
|
| |
|
dhtp2tlt_v.t.anhtruc_08897531
|
Apr 27 2011, 09:46 AM
Post #5
|
|
- Posts:
- 104
- Group:
- DHTP2LT
- Member
- #194
- Joined:
- Mar 8, 2011
|
III.Sàng lọc các thuộc tính III.1 Mức độ quan trọng của các thuộc tính:
Spoiler: click to toggle
III.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến các thuộc tính
Spoiler: click to toggle |
|
|
| |
|
dhtp2tlt_v.t.anhtruc_08897531
|
Apr 27 2011, 10:38 AM
Post #6
|
|
- Posts:
- 104
- Group:
- DHTP2LT
- Member
- #194
- Joined:
- Mar 8, 2011
|
IV. Khảo sát ý kiến người tiêu dùng
Spoiler: click to toggle Để đưa ra kết luận chính xác, nhóm tiếp tục khảo sát ý kiến người tiêu dùng, đối tượng khảo sát không giới hạng , sau đó sẽ thống kê số liệu để đưa ra một ý tưởng chủ đạo. Nhóm khảo sát bằng cách đưa ra một bảng câu hỏi điều tra để thăm dò ý kiến của họ.
IV.1 Bảng khảo sát riêng cho 3 sản phẩm
Spoiler: click to toggle
IV.2 Bảng khảo sát chung cho 3 sản phẩm
Spoiler: click to toggle Sau khi tổng thu kết quả, đã tìm được sản phẩm vượt trội nhất nhưng để tăng độ chính xác nhóm em đưa ra một bảng khảo sát cho 3 loại sản phẩm cùng lúc:  Bảng kết quả thu được: Số phiếu thu được 98 phiếu  Kết luận: Sau khi sàng lọc 10 ý tưởng bằng phương pháp Atractiveness Analysis để chọn ra 3 ý tưởng chủ đạo và từ 3 ý tưởng đó tiếp tục sàng lọc các thuộc tính rồi khảo sát người tiêu dùng nhóm đã tìm ra được sản phẩm vượt trội nhất đó là sản phẩm”Nước thanh long lên men”.Qua biểu đồ ở hình 1 đã cho thấy số người yêu thích sản phẩm “nước thanh long lên men” cao hơn hai sản phẩm còn lại nên nhóm đã quyết định chọn sản phẩm”Nước thanh long lên men” được tiến hành phát triển sản phẩm. Để biết rõ hơn người tiêu dùng hay không thích những điểm gì của sản phẩm “Nước thanh long lên men” để điều chỉnh sản phẩm thích hợp với người tiêu dùng hơn nhóm đã đưa ra bảng điều tra khách hàng một lần nữa về sản phẩm.
IV.3 Bảng khảo sát cho 1 sản phẩm tối ưu
Spoiler: click to toggle  Bảng kết quả: Số phiếu thu được là 98 phiếu  Kết luận: Qua đồ thị trên ta thấy sản phẩm vẫn còn mới lạ với người tiêu dùng  Kết luận: Cho dù chưa dùng sản phẩm nhưng qua mô tả người tiêu dùng cũng thấy thích sản phẩm.   Kết luận: Người tiêu dùng đặc biệt chú trọng đặc tính của sản phảm mang lại cho sức khỏe của họ và mùi vị của sản phẩm.  Kết luận chung: Đa số người tiêu dùng điều chú trọng đến yếu tố hương vị và những giá trị mà sản phẩm mang đến cho sức khỏe của họ và sản phẩm nước ép thanh long lên men đã đáp ứng được những nhu cầu đó.
|
|
|
| |
|
dhtp2tlt_v.t.anhtruc_08897531
|
Jun 11 2011, 08:50 PM
Post #7
|
|
- Posts:
- 104
- Group:
- DHTP2LT
- Member
- #194
- Joined:
- Mar 8, 2011
|
Phần 2: NƯỚC THANH LONG LÊN MEN
I. Nguyên liệu I.1 Thanh long
Spoiler: click to toggle Nguồn gốc
Thanh long một loài cây được trồng lấy quả (tên tiếng Anh là Pitahaya, hay còn gọi là Dragon fruit), thuộc họ Xương rồng, có nguồn gốc ở các vùng sa mạc thuộc Mehico và Colombia. Hiện nay được trồng ở các nước như Trung Quốc, Đài Loan và trong khu vực Đông Nam Á như Việt Nam, Malaysia, Thái Lan, Philippines.
Thanh long được người Pháp đem vào trồng ở Việt Nam trên 100 năm nay, nhưng mới được đưa lên thành hàng hóa từ thập niên 1980. Việt Nam hiện nay là nước duy nhất ở Đông Nam Á có trồng thanh long tương đối tập trung trên qui mô thương mại với diện tích ước lượng 4.000 hectare (1998), tập trung tại Bình Thuận 2.716 hectare, phần còn lại là Long An, Tiền Giang, TP. HCM, Khánh Hòa và rải rác ở một số nơi khác.
Đặc điểm Cây Thanh long (một loại xương rồng) trồng ở nước ta có thân, cành trườn bò trên trụ đỡ (climbing cacti), trong khi ở một số nước trồng loại xương rồng thân cột (columnar cacti).
Thân chứa nhiều nước nên nó có thể chịu hạn một thời gian dài. Thân, cành thường có ba cánh dẹp, xanh, hiếm khi có 4 cánh. ở các nước khác có thứ 3, 4, 5 cánh. Mỗi năm cây cho từ 3 - 4 đợt cành. Trong mùa ra cành, khoảng thời gian giữa hai đợt ra cành từ 40 - 50 ngày. Số lượng cành trên cây tăng theo tuổi cây: cây một tuổi trung bình có độ 30 cành, hai tuổi độ 70 cành, ba tuổi độ 100 cành và bốn tuổi 130 cành. ở cây 5 - 6 tuổi chỉ duy trì độ 150 - 170 cành.

Hoa Trung bình có từ 4 - 6 đợt ra hoa rộ mỗi năm. Hoa lưỡng tính, rất to, có chiều dài trung bình 25 - 35 cm, nhiều lá dài và cánh hoa dính nhau thành ống, nhiều tiểu nhị và một nhụy cái dài 18 - 24 cm, đường kính 5-8 mm, nuốm nhụy cái chia làm nhiều nhánh. Hoa thường nở tập trung từ 20 - 23 giờ đêm và đồng loạt trong vườn. Từ nở đến tàn kéo dài độ 2 - 3 ngày. Thời gian từ khi xuất hiện nụ tới hoa tàn độ 20 ngày. Các đợt nụ đầu tiên rụng từ 30% đến 40%, về sau tỉ lệ này giảm dần khi gặp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi.

Quả Quả thanh long hình bầu dục có nhiều tai lá xanh (do phiến hoa còn lại), đầu quả lõm sâu tạo thành “hốc mũi”. Khi còn non vỏ quả màu xanh, lúc chín chuyển qua đỏ tím rồi đỏ đậm. Thịt quả màu trắng cho đại đa số thanh long trồng ở miền Nam Việt Nam. Quả có trọng lượng trung bình là 568,8 g, dài trung bình là 12,28 cm và đường kính trung bình là 9,2 cm. Có nhiều quả lớn trọng lượng từ l kg đến l,3 kg. Thường quả nặng trên 300 g là đã có thể xuất khẩu được.
Phân tích thành phần sinh hóa cho thấy trong 100 g thịt quả chín: hàm lượng đường tổng số có thể biến động từ 8 g đến 12 g, vitamin C từ 3,8 mg đến 9,4 mg. Có sự biến động này là do phân bón, chế độ chăm sóc và thời gian hái, hễ để quả chín trên cây càng lâu càng ngọt. Độ Brix của thanh long biến thiên từ 11% đến 15,3%, quả có độ cứng từ l,73 tới 2,0 lbs. Ngoài chất đường, sinh tố, quả còn chứa nhiều muối khoáng như K, Ca và Mg.
Quả của thanh long có ba dạng, tất cả đều có vỏ giống như da và có một chút lá. Chúng có tên gọi khoa học như sau: - Hylocereus undatus thuộc chi Hylocereus, ruột trắng với vỏ hồng hay đỏ loại này phổ biến ở Việt Nam). - Hylocereus polyrhizus thuộc chi Hylocereus, ruột đỏ với vỏ hồng hay đỏ. - Selenicereus megalanthus thuộc chi Selenicereus, ruột trắng với vỏ vàng.
Ở Việt Nam loại ruột đỏ, vỏ hồng lấy giống từ Đài Loan năm 1988, hiện nay mới trồng thử nghiệm tại Lạng Sơn và Phủ Quỳ (tỉnh Nghệ An). Loại ruột trắng vỏ hồng hay đỏ được trồng rộng rãi ở các tỉnh như Bình Thuận, Long An, Tiền Giang v.v…

Vai trò của thanh long
Thanh long không chỉ đơn thuần là một loại trái cây mà nó còn được xem như loại thuốc bởi những giá trị dinh dưỡng mà nó mang lại. Trái thanh long rất giàu vitamin, đặc biệt là vitamin C, cung cấp nhiều chất khoáng đặc biệt là phốt pho và canxi. Những bệnh nhân đái tháo đường sử dụng loại trái cây này như thức ăn thay thế cho cơm và là một thức ăn giảm béo. Ngoài ra nó còn được xem như một thực phẩm ngăn ngừa lão hoá, chống ung thư và là thức ăn rất tốt cho bệnh nhân hen xuyễn, cao huyết áp, ho.
So với một số trái cây khác trái thanh long có nhiều chất khoáng hơn, thành phần chất xơ trong trái thanh long gồm loại tan được là pectin và không tan là cellulose nên rất tốt cho người béo phì vốn chiếm hơn một nửa số bệnh nhân đái tháo đường.
Thành phần hóa học
Thành phần hóa học trong 100g phần ăn được của trái thanh long. Nước: 85 – 87 g Năng lượng40 – 60 calo Protein 1,1 g Chất béo 0,21 – 0,61 g Tro 0,59 g Canxi 10,2 mg Ma-giê 38,9 mg Sắt 6,07 mg Phốt-pho 27,5 mg Kali 27,2 mg Natri 2,9 mg Đường tổng 11,2 g - Glucose 0,57 g - Fructose 3,2 g - Chất xơ 1,1 g - Sorbitol 2,7 g Brix 13
Chú ý: các giá trị nêu trên có thể thay đổi theo giống và điều kiện trồng.
I.2 Enzym pectinase
Spoiler: click to toggle Vai trò - Làm mềm rau quả trước khi trích ly, ép lấy dịch. - Tăng hiệu suất thu hồi nước quả từ 10-15% - Quá trình trích ly bằng máy ly tâm được nhanh hơn - Tăng lượng đường và axit trích ly - Cải thiện màu sắc - Quá trình làm trong và lọc dễ dàng hơn - Tăng hiệu quả sản xuất
Cơ chế tác động của enzym pectinase -Trong chế biến nước quả, sử dụng các chế phẩm enzyme pecinase nhằm hai mục đích cơ bản: + Phá vỡ thành tế bào thức vật nhằm nâng cao hiệu suất thu nước quả. + Làm trong và ổn định chất lượng nước. -Phá vỡ thành tế bào: Tế bào thực vật được cấu tạo bằng vỏ tế bào (thành tế bào). Vỏ tế bào như một lớp thành bảo vệ rất hữu hiệu và tạo hình cho tế bào. Ở vỏ tế bào thực vật có nhiều chất pectin, các chất pectin được xem như chất ciment gắn các tế bào với nhau. Phá vỡ sự gắn kết này sẽ tạo điều kiện cho các vật chất trong tế bào thoát ra khỏi tế bào. Các chế phẩm enzym có chứa không chỉ pectinase mà còn chứa các enzym trong nhóm cellulase. Các loại enzym này sẽ làm phá vỡ thành tế bào và giúp quá trình thu nhận dịch tế bào tốt hơn. -Làm trong nước quả: nước quả sau khi được tách khỏi tế bào thường chứa nhiều chất khác nhau. Trong đó chất pectin chiếm lượng đáng kể và pectin thường gây hiện tượng độ nhớt cao và gây đục nước quả. -Các chất protein có trong bào tương, màng tế bào và gian bào. Pectin chứa polygalacturonic acid, araban và galactan. Trong đó lượng polygalacturonic acid chiếm tới 40-60%. Khi bị thủy phân, pectin tách thành hai phần: + Phần trung tính – phức chất galactanoraban + Phần acid – acid pectic. -Trong bào tương, pectin nằm ở dạng hòa tan. Trong màng tế bào và gian bào, chúng nằm ở dạng không hòa tan gọi là protopectin. Protopectin ở màng gian bào có chứa lượng kim loại khá lớn và một lượng nhóm metocyl đủ để làm protopectin bền vững. Còn protopectin ở màng tế bào chứa một lượng kim loại không nhiều, có độ metocyl hóa cao. Vì thế, tế bào thực vật có khả năng trương nở tốt. -Nếu enzym tham gia phân giải pectin ở gian bào sẽ làm các tế bào khó liên kết với nhau và thịt quả dễ dàng bị mềm ra. Pectin thường có mối liên kết hydro và liên kết nguyên tử yếu hơn so với cellulose.
I.3 Saccharose
Spoiler: click to toggle Đường tự nhiên là chất ngọt dinh dưỡng không độc hại, liều lượng sử dụng không hạn chế; trừ những người bị tiểu đường và béo phì. Trong sản xuất thực phẩm, các loại đường tự nhiên thường dùng là đường cát tinh luyện saccharose loại RE và RS. Ngoài ra, có một số dùng đường thùng, đường nha (Maltose), đường mía (Fructose), latose, mật ong, sorbitol, manitol…để sản xuất bánh, kẹo. Saccharose (danh pháp IUPAC: Sucroza, còn được gọi là đường, đường mía, sacaroza) thường gặp trong chế biến thực phẩm do nó vừa là chất tạo ngọt vừa là chất dinh dưỡng; là thành phần quan trọng trong nhiều loại thực phẩm như bánh bích quy, kẹo ngọt, kem và nước trái cây, trong hỗ trợ trong bảo quản thực phẩm. Vị ngọt dịu của sản phẩm chỉ có được với nồng độ đường thích hợp trong sản phẩm. + Vai trò: - Nâng cao giá trị thực phẩm và giá trị năng lượng của thực phẩm - Làm cho sản phẩm có vị ngọt dễ chịu. - Tăng khả năng bảo quản của sản phẩm do làm tăng áp suất thẩm thấu, hạn chế sự phát triển của vi sinh vật
I.4 Nấm men
|
|
|
| |
|
dhtp2tlt_v.t.anhtruc_08897531
|
Jun 11 2011, 09:49 PM
Post #8
|
|
- Posts:
- 104
- Group:
- DHTP2LT
- Member
- #194
- Joined:
- Mar 8, 2011
|
Phần 2: tiếp theo
II. Quy trình sản xuất II.1 Quy trình
Spoiler: click to toggle
II.2 Thuyết minh quy trình
Spoiler: click to toggle Nguyên liệu - Chọn nguyên liệu đã chín, còn nguyên không dập nát, nguyên liệu còn tươi vừa mới thu hái. - Nguồn gốc nguyên liệu: Khi bắt tay vào làm sản phẩm, thanh long vừa vào mùa nhóm đã tìm mua nguyên liệu ở các nhà vườn ở Bình Thuận với giá không đắt lắm(5000 ngàn/1kg), khoảng vài tuần sau thanh long đã rộ mùa thì nhóm có thể mua thanh long với giá tương tự ở các chợ như : chợ Gò Vấp, chợ Căn Cứ, chợ Tân Sơn Nhất… Thanh long đỏ với giá 35 ngàn/1kg
Phân loại, sơ chế - Phân loại: Thanh long sau khi mua về sẽ được kiểm tra xem có bì dập nát trong quá trình chuyên chở hay không sau rửa sạch thanh long để loại bỏ tạp chất và vi sinh vật tránh chúng nhiễm vào sản phẩm làm ảnh hưởng đến quá trình lên men và chất lượng thành phẩm. Đồng thời nước sử dụng trong quá trình rửa phải là nước sạch đạt chỉ tiêu nước sinh hoạt của bộ y tế để tránh vi sin vật có hại trong nước nhiễm vào trong sản phẩm.
- Sơ chế-xay nhuyễn:Thanh long sau khi rửa được lột bỏ vỏ, phần ruột được cắt nhỏ ra để thuận lợi cho quá trình xay, thanh long đỏ xay riêng, thanh long trắng xay riêng. Do thanh long có cấu trúc mềm nên trong quá trình xay không bổ sung nước.
Xử lý độ nhớt - Trong thanh long độ nhớt tương đối cao nên gây khó khăn cho quá trình lọc, do đó trước khi lọc thanh long được xử lý độ nhớt. - Pectin trong thanh long tạo độ nhớt cho thanh long nên nhóm sử dụng enzime pectinase để xử lý độ nhớt. Bảng khảo sát tỷ lệ enzyme cho vào(dựa vào vận tốc lọc)
Kết luận: Dựa vào vận tốc lọc có thể chọn được nồng độ enzyme thích hợp để xử lý độ nhớt: - Thanh long ruột trắng : 0.07 g/100ml - Thanh long ruột đỏ: 0.15 g/100ml -Dịch thanh long sau khi cho enzyme pectinase vào sẽ được ủ ở 50oC trong 1h, sau đó tiến hành lọc.
Lọc, phối trộn Lọc: Dịch thanh long sau khi xử lý độ nhớt sẽ được đem đi lọc để thu lấy dịch quả Phối trộn: Tỷ lệ phối trộn - Thanh long ruột đỏ chiếm 4% - Sau khi so sánh đánh giá nhóm quyết định chọn tỷ lệ phối trộn là ruột đỏ chiếm 4% so với thanh long ruột trắng
Lên men Bảng điều chỉnh dịch thanh long trước khi lên men
Bảng điều chỉnh dịch thanh long trước khi lên men
Trong quá trình lên men tránh để dịch thanh long tiếp xúc với oxy sẽ gây ra hiện tượng oxy hóa làm hư sản phẩm.
Lọc, hoàn thiện sản phẩm - Lọc: mục đích nhằm loại bỏ cặn nấm men làm cho dịch trong hơn. - Hoàn thiện sản phẩm Dịch lên men sau khi lọc sẽ được chiết vào chai thủy tinh ghép nắp và đem đi thanh trùng Mục đích thanh trùng: Tiêu diệt vi sinh vật bảo quản sản phẩm lâu hơn. Nhiệt độ thanh trùng: 80-900C Thời gian thanh trùng:5 phút
|
|
|
| |
|
dhtp2tlt_v.t.anhtruc_08897531
|
Jun 12 2011, 03:59 PM
Post #9
|
|
- Posts:
- 104
- Group:
- DHTP2LT
- Member
- #194
- Joined:
- Mar 8, 2011
|
Phần 3: Thương Mại Hóa Sản Phẩm
I. Thiết kế nhãn
Spoiler: click to toggle - Sản phẩm là một loại thức uống bổ dưỡng có màu hồng rất đẹp nên nhóm chọn bao bì bằng chai thủy tinh để tăng tính cảm quan cho sản phẩm, ngoài phần bao bì chứa đựng sản phẩm thì việc thiết kế nhãn chai cũng không kém phần quan trọng. - Nhãn chai là nơi để người tiêu dùng biết rõ về sản phẩm cũng như cách sử dụng cách bảo quản và những thông tin cần thiết khác của nhà sản xuất. - Trên nhãn chai sẽ phải có những thông tin sau: •Tên sản phẩm •Dung tích của sản phẩm •Thành phần của sản phẩm •Hạn sử dụng •Địa chỉ sản xuất •Hướng dẫn bảo quản và sử dụng sản phẩm •Bảng giá trị dinh dưỡng •Mã vạch của sản phẩm
II. Marketing sản phẩm
Spoiler: click to toggle Chọn thị trường mục tiêu: Trước khi sản xuất 1 sản phẩm nào đó thì cần phải xác định những đặc điểm, thuộc tính của sản phẩm đó sẽ phù hợp với những phân nhóm khách hàng nào? Từ đó chọn ra khách hàng mục tiêu cho sản phẩm đó. Sau khi đã xác định được khách hàng mục tiêu, thiết kế , sản xuất được sản phẩm thì cần phải định giá trước khi tung ra thị trường.
Định giá: Giá cả SP cần phải liên kết chặt chẽ với việc thiết kế SP, với vấn đề phân phối… Giá SP gồm có: chi phí biến đổi: chi phí nguyên vật liệu, phụ tùng… và chi phí cố định: chi phí thuê mặt bằng, chi phí quản lý… Công ty sẽ sử dụng chiến lược giá hớt kem: công ty đặt giá cao cho sản phẩm. Sau khi lượng tiêu thụ chậm lại, công ty mới hạ giá sản phẩm để thu hút khách hàng. Đây là chiến lược giá khi công ty tung sản phẩm vào thị trường lần đầu. Lúc đầu công ty đặt giá cao cho sản phẩm, cao đến 1 mức mà thị trường tạm chấp nhận, sau 1 thời gian nhất định tiêu thụ, số lượng sản phẩm bán ra sẽ giảm dần lúc này công ty đã biết là cần đặt giá cho sản phẩm đó là bao nhiều nên chúng tôi sẽ đặt giá mới cho sản phẩm, tất nhiên lúc này giá sẽ thấp hơn lúc đầu.
Quảng cáo: Thiết lập các hoạt động quảng cáo sản phẩm. Lựa chọn những hình thức quảng cáo dành cho sản phẩm như: quảng cáo trên tivi, radio, trên internet, trên báo, tạp chí… Sau khi lựa chọn hình thức quảng cáo, thiết lập thông tin cho các quảng cáo đó. Thông tin trên quảng cáo luôn đảm bảo các yêu cầu sau: 1.Nhận biết: giúp cho thị trường mục tiêu nhận biết được sản phẩm (bao gồm tên sản phẩm, tên công ty) 2.Kiến thức: đưa ra các thông tin về sản phẩm để thị trường mục tiêu biết rõ hơn về sản phẩm. 3.Hài lòng: phát triển thông tin nhằm làm hài lòng khách hàng. 4.Thích thú: Sau khi đạt được sự hài lòng từ thị trường mục tiêu thì cần tạo sự thích thú cho họ bằng những thông tin về chất lượng, đặc điểm, giá trị do sản phẩm đem lại. 5.Tin tưởng: mức độ tiếp theo là phải làm cho khách hàng tin tưởng sản phẩm. 6.Mua hàng: cuối cùng, quảng cáo cần phải kích thích được họ mua hàng.
Phân phối: Sau khi thực hiện các bước trên thì chúng tôi sẽ thiết kế kênh phân phối và hoạt động phân phối: khách hàng, sản phẩm, trung gian, đối thủ cạnh tranh, công ty, môi trường.
Những việc cần tiến hành để thiết kế kênh phân phối: 1.Nghiên cứu: thu thập thông tin cần thiết để lập kế hoạch và tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi. 2.Quảng cáo: kích thích tiêu thụ và soạn thảo và truyền bá những thông tin về hàng hóa. 3.Tiếp xúc: thiết lập các mối quan hệ, tạo dựng và duy trì mối liên hệ với những người mua tiềm ẩn. 4.Làm thích ứng: hoàn thiện hàng hóa, đáp ứng yêu cầu của khách hàng. 5.Đàm phán: thực hiện việc thương lượng, thỏa thuận về giá cả để bán hàng. 6.Kho vận: tổ chức lưu thông hàng hóa, vận chuyển, bảo quản, dự trữ hàng hóa.
Hình thức phân phối của chúng tôi sẽ là phối đa kênh: bao gồm 1.Kênh phân phối truyền thống: (gồm: nhà sản xuất, bán buôn, bán lẻ hoạt động độc lập). Không 1 thành viên nào có thể kiểm soát các thành viên còn lại cũng như không có ràng buộc về vai trò và trách nhiệm trong giải quyết các tranh chấp. 2.Hệ thống phân phối dọc: (gồm: nhà sản xuất, 1 hay nhiều người bán sỉ, 1 hay nhiều người bán lẻ hoạt động như 1 hệ thống thống nhất). Các thành viên phụ thuộc lẫn nhau, góp phần tìm kiếm lợi nhuận chung. Hệ thống marketing dọc đã trở thành phổ biến trong lĩnh vực hàng tiêu dùng. 3.Hệ thống phân phối ngang: (2 hay nhiều công ty không có liên hệ với nhau trong cùng 1 cấp của kênh phân phối liên kết lại với nhau để theo đuổi mục tiêu marketing). Đó là sự liên kết về tài chính, năng lực sản xuất, nguồn lực marketing.
|
|
|
| |
|
dhtp2tlt_voabaothu_08892971
|
Jun 18 2011, 11:07 PM
Post #10
|
- Posts:
- 87
- Group:
- DHTP2LT
- Member
- #281
- Joined:
- Apr 21, 2011
|
cho mình hỏi thanh long của bạn uống có bị say không? nồng độ cồn của nó là bao nhiêu vậy?
|
|
|
| |
| 1 user reading this topic (1 Guest and 0 Anonymous)
|