
| Chào mừng các bạn đến với Forum của tôi. Hiện tại bạn đang là khách của forum. Điều này sẽ giới hạn bạn trong việc sử dụng các chức năng. Nếu muốn, bạn có thể đăng ký thành viên. (member). Quá trình đăng ký rất đơn giản, nhanh chóng và hoàn toàn miễn phí. Bạn hãy lưu ý về các quy định chung để không bị khóa nick. Join our community! Nếu bạn đã là thành viên, vui lòng đăng nhập (log in): |
| Ứng dụng CNSH trong phân bón và xử bệnh ở Bắp; Nội dung | |
|---|---|
| Tweet Topic Started: Jan 16 2012, 11:51 AM (20,072 Views) | |
| DHTP5-N2-VoThiHongCuc-09211291 | Jan 16 2012, 11:51 AM Post #1 |
|
Nội dung Spoiler: click to toggle |
|
|
| Replies: | |
|---|---|
| DHTP5-N2-VoThiHongCuc-09211291 | Feb 1 2012, 05:59 PM Post #21 |
|
Mình xin trả lời câu hỏi của ban Liên! 1. "Trong giai đoạn bón lót cho cây bắp: bón toàn bộ lượng phân chuống (hoặc phân hữu cơ vi sinh) với toàn bộ phân lân". Tại sao không bón thêm phân đạm, kali cho cây? Mình nghĩ rằng ơ giai đoạn mới gieo trồng này, cây cần phải được bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng để có thể sinh trưởng, phát triển, có khả năng chống chịu với sâu bệnh và thời tiết bất lợi. Bạn nghĩ sao về vấn đề này? 2. Đặc điểm của cây để nhận biết cây đang thiếu chất dinh dưỡng gì? 3. Cây bắp thường được phân biệt theo hai loại: bắp địa phương và bắp lai. Vậy lượng phân bón giữa hai loại này có gì khác nhau? =>1. Bót lót là cách xử lý đồng ruộng trước khi gieo hạt, cho phân vào các hốc rồi lấp đất lại. Trong giai đoạn này ta nên bón toàn bộ phân lân hoặc phân chuồng vì phân lân là phân hòa tan chậm có tác dụng lâu dài cho cây thích hợp cho việc bón lót. còn về phân đạm nhóm mình cũng có đề cập là nên bón 1/3 lượng phân bón nhưng việc sử dụng lượng phân đạm cho bón lót là không cần thiết, ta nên bón phân đạm khi cây nảy mầm và có độ cao trong khoảng 10-15cm, đây là giai đoạn cây phát triển mạnh và cần đạm để tăng trưởng. việc sử dụng đạm trong bón lót nếu sử dụng quá liều có thể phản tác dụng là làm cho cây con chết sau khi nảy mầm. còn việc sử dụng phân kali cho cây giúp cứng cây và phát triển khỏe nên bón khi cây trưởng thành và sắp cho trái. Mình nghỉ nên phân bố các loại phân theo từng giai đoạn sinh trưởng cho cây đem lại hiệu quả và ít tốn kém vì nếu sử không đúng thời điểm sẽ không có tác dụng và có thể gây ngộ độc cho bắp 2. Đặc điểm nhận biết khi cây thiếu dinh dưỡng là a. Biểu hiện triệu chứng thiếu dinh dưỡng đa lượng ![]() ![]() b. Biểu hiện triệu chứng thiếu một số nguyên tố dinh dưỡng trung, vi lượng Thiếu canxi.- Thiếu canxi thường thấy ít trên đồng ruộng vì bị che lấp bởi các ảnh hưởng phụ gắn liền với độ chua cao hạn chế sự sinh trưởng. - Các lá non của cây mới trồng bị ảnh hưởng trước hết. Chúng bị vặn méo, nhỏ và có màu xanh lục sẫm không bình thường. - Lá có thể có hình đài hoa và quăn, các chồi tận cùng bị suy thoái cùng một vài chỗ gãy của cuống lá. - Sinh trưởng của rễ bị suy yếu rõ rệt, xuất hiện sự ra rễ ngang. - Điểm sinh trưởng (chồi tận cùng) của cây bị khô khi bị thiếu nắng. - Chồi và hoa bị rụng sớm. - Cấu trúc thân bị yếu. Thiếu magie- Úa vàng giữa các gân lá, chủ yếu của các lá già gây ấn tượng có sọc vệt hoặc chắp vá, khi bị thiếu trầm trọng mô bị ảnh hưởng có thể bị khô và chết. - Lá thường nhỏ, giòn ở các thời kỳ cuối và cong lên ở mép. thiếu lưu huỳnh- Các lá non hơn trở thành đồng đều xanh vàng nhẹ hoặc vàng úa. - Sinh trưởng của chồi bị hạn chế, ra hoa thường không rõ. - Thân cứng đơ, gỗ hoá và đường kính nhỏ. Thiếu kẽm- Triệu chứng thiếu chủ yếu xuất hiện trên các lá đã trưởng thành hoàn toàn ở vị trí thứ hai và thứ ba tính từ ngọn cây. Xuất hiện từ một sọc vàng nhạt đến một dải các mô màu trắng hoặc vàng với các gân màu đỏ tía giữa gân giữa và các mép lá.. 3. Theo ý kiến của mình thì giữa cây bắp lai và cây bắp thường thì việc bón phân có thê như nhau chỉ khác là tùy vào loại đất chất dinh dưỡng trong đất mà liều lượng bón cho hợp lý. Cảm ơn bạn! Edited by DHTP5-N2-VoThiHongCuc-09211291, Feb 1 2012, 06:25 PM.
|
|
|
| DHTP5-N2-VoThiHongCuc-09211291 | Feb 1 2012, 06:23 PM Post #22 |
|
Mình xin trả lời câu hỏi của bạn Ngọc Huyền! 1/ Nhóm cho mình hỏi luân canh ngô với lúa và cây họ đậu hoặc với các cây trồng khác được áp dụng như thế nào?Hiệu quả ra sao? 2/Nhóm có thể nói thêm về Phân hữu cơ vi sinh BioGro? => 1. Việc luân canh cây ngô và cây lúa được áp dụng rộng rãi ở các tỉnh Nam trung bộ tiêu biểu như ở Bình Thuận. Thì người ta tiến hành luân canh 2 vụ lua và 1 vụ bắp đem lại hiệu quả rất là cao. Vụ bắp thường trồng vào vụ đông xuân để tiết kiệm nước. Việc luân canh cây ngô và cây lúa đem lại hiệu quả cao về kinh tế đồng thời có thể tiết kiệm nước tối đa và hạn chế được sâu rầy gây hại. Ngăn chặn nguy cơ bùng phát dịch rầy nâu, bệnh và lùn và lùn xoắn lá trên lúa Còn việc áp dụng luân canh cây ngô với cây đậu được áp dụng nhiều ở các tỉnh vùng cao. Ngô được trông vào vụ xuân hè khi gặp các trận mưa rào thì ba con bắt đầu xuống giống trồng đậu. Việc luân canh cây đậu và cây ngô mang lại hiệu quả kinh tế cho nông dân và thích cho vùng thiếu nước ở các tỉnh miền núi. 2. Phân vi sinh Biogro Biogro được tạo thành từ chế phẩm vi sinh chức năng và cơ chất hữu cơ đã được xử lý. Thành phần của phân vi sinh Biogro bón qua rễ gồm có: 1,0 x 106- 107 vi sinh vật cố định đạm; 4,0 x 106-107 vi sinh vật phân giải lân và trên 8,4% chất mang bao gồm các chất hữu cơ đã được xử lý như mùn rác, than bùn… Tác dung: - Phân vi sinh BioGro cung cấp đạm, lân dễ tiêu cho cây trồng và kích thích sự sinh trưởng của cây. - BioGro là giải pháp hữu hiệu để cải tạo đất bạc màuCác vi sinh vật trong BioGro phân hủy chất hữu cơ thành mùn, cung cấp chất dinh dưỡng cho đất, tăng độ phì cho đất, cải tạo đất bị chai do bón phân hóa học trong thời gian dài. Bón quá phân vi sinh không sợ cây bị lốp và đất sẽ được cải tạo tốt hơn.Tác dụng của BioGro càng thể hiện rõ khi bón phối hợp với các loại phân hữu cơ khác. - BioGro là giải pháp về an ninh lương thực. Với khả năng thay thế ít nhất 50% phân hoá học, năng xuất cây trồng vẫn tăng từ 10-15%. - Phân vi sinh BioGro làm sạch môi trường cho cây trồng và vật nuôi, cung cấp nguồn dinh dưỡng tự nhiên, giúp cây khoẻ, khả năng chống chịu sâu bệnh cao hơn, giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật cần sử dụng, tạo ra các sản phẩm nông nghiệp an toàn. - Phân vi sinh BioGro chống hạn làm tăng khả năng giữ nước và hút nước cho cây trồng, giúp cây trồng vượt qua thời kỳ hạn hán. - Các sản phẩm vi sinh BioGro dùng để phân hủy rác thải hữu cơ đã làm sạch môi trường nuôi tôm, phân hủy rác thải của các nhà máy giấy, nhà máy đường,.. - Giảm lượng NO3- tồn đọng trong nông sản là nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước. Giảm đáng kể quá trình denitrit hoá sinh ra N2O rất độc hại. - Giảm lượng khí đốt, tiết kiệm năng lượng để sản xuất phân bón. Edited by DHTP5-N2-VoThiHongCuc-09211291, Feb 1 2012, 06:25 PM.
|
|
|
| DHTP5-N1-PhamDuyLam-09160451 | Feb 2 2012, 10:16 AM Post #23 |
|
chất mang là chất để vsv cấy tồn tại và phát triển,tạo điều kiện thuận lợi cho bảo quản, sủ dụng và vận chuyển phân vi sinh, chất mang không chứa chất gây hại cho người , động vật môi trường và chất lượng nông sản.Lên men chủ yếu là để tăng sinh khối của vi sinh vật. cenlulose được phân giải bởi nhiều vi khuẩn hiếu khí , một số loài kị khí cũng có khả năng phân giải cenlulose :cytophaga, cellunomonas, giống bacillius,clostridium,aspergillus,penicillium..... có thể sử dụng Rovral TS Thường dùng để khử độc hạt giống ở liều lượng 150-250g/kg hạt để phòng trừ nhiều loại nấm bệnh (R. solani, Fusarium sp., Altemaria sp., Ticillium sp., Sclerotiana sp.). |
|
|
| DHTP5-N1-PhamDuyLam-09160451 | Feb 2 2012, 10:40 AM Post #24 |
|
mình xin sửa chữa và bổ sung lại như sau: Phân Vô Cơ Phân vô cơ hay phân hóa học là các loại phân có chứa yếu tố dinh dưỡng dưới dạng muối khoáng (vô cơ) thu được nhờ các quá trình vật lý, hóa học. ó 13 chất dinh dưỡng khoáng thiết yếu đối với sinh trưởng và phát triển của cây. Trong đó có 3 nguyên tố đa lượng là: N, P, K; 3 nguyên tố trung lượng là: Ca, Mg, S và 7 nguyên tố vi lượng: Fe, Mn, Zn, Cu, Mo, B, Cl. Ngoài ra, còn một số nguyên tố khác cần thiết cho từng loại cây như: Na, Si, Co, Al… Một Số Phân Bón Vô Cơ Thông dụng Hiện Nay I. Phân Đơn: Là loại phân chỉ chứa 1 trong 3 nguyên tố dinh dưỡng chủ yếu là N, P hoặc K 1-Phân đạm Là tên gọi chung của các loại phân bón vô cơ cung cấp đạm cho cây. Đạm là chất dinh dưỡng rất cần thiết và rất quan trọng đối với cây. Đạm là nguyên tố tham gia vào thành phần chính của clorophin, prôtit, các axit amin, các enzym và nhiều loại vitamin trong cây. Bón đạm thúc đẩy quá trình tăng trưởng của cây, làm cho cây ra nhiều nhánh, phân cành, ra lá nhiều; lá cây có kích thước to, màu xanh; lá quang hợp mạnh, do đó làm tăng năng suất cây. Phân đạm cần cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng, đặc biệt là giai đoạn cây sinh trưởng mạnh. Trong số các nhóm cây trồng đạm rất cần cho các loại cây ăn lá như rau cải, cải bắp v.v. 1. 1- Phân Urea [CO(NH2)2] có 46%N 1. 2- Phân đạm Sunphat còn gọi là đạm SA [(NH4)2SO4] chứa 21%N 1. 3- Phân Clorua Amon [NH4Cl] có chứa 24-25% N 1. 4- Phân Nitrat Amon [NH4NO3] có chứa khoảng 35% N 1. 5- Phân Nitrat Canxi [Ca(NO3)2] có chứa 13-15% N 1. 6- Phân Nitrat Natri [NaNO3] có chứa 15-16% N 1. 7- Phân Cyanamit Canxi [CaCN2] có chứa 20-21% N Phân urê có tỷ lệ đạm cao nhất (44 - 48%); có khả năng thích nghi rộng, phát huy tác dụng trên nhiều loại đất và các loại cây trồng khác nhau, thích hợp trên đất chua phèn. Urê được dùng để bón thúc. Có thể pha loãng theo nồng độ 0,5 - 1,5% để phun lên lá. Sunphat đạm (phân SA) chứa 20 - 21% nitơ (N) nguyên chất và 29% lưu huỳnh (S). Phân SA có dạng tinh thể, mịn, màu trắng ngà hoặc xám xanh. Phân có mùi khai, vị mặn, hơi chua, dễ tan trong nước. SA có thể bón cho tất cả các loại cây trồng, trên nhiều loại đất khác nhau, trừ đất phèn và chua. Nếu đất chua cần bón thêm vôi và lân. Phân này dùng tốt cho cây trồng trên đất đồi, đất bạc màu (thiếu S). SA dùng để bón thúc và bón nhiều lần, chuyên dùng cho các cây đậu đỗ, lạc, ngô.... Phôtphat đạm (phốt phát amôn) chứa 16% đạm và 20% lân. Phân có dạng viên, màu xám tro hoặc trắng, dễ chảy nước, dễ tan trong nước và phát huy hiệu quả nhanh, dùng để bón lót, bón thúc đều tốt. Phân dễ sử dụng, thích hợp ở đất nhiễm mặn. Cần bón phối hợp với các loại đạm khác. Phân đạm Clorua: Chứa 24 - 25% N nguyên chất. Dạng tinh thể mịn, màu trắng hoặc vàng ngà, dễ tan trong nước, không bị vón cục, dễ sử dụng. Là loại phân sinh lý chua nên bón kết hợp với lân và các loại phân bón khác. Không nên dùng để bón cho khoai tây, hành, tỏi, bắp cải, chè,... Đất khô hạn, nhiễm mặn không nên bón phân đạm clorua, dễ làm cho cây bị ngộ độc (dư clo). Phân amôn nitrat: có 33 - 35% N nguyên chất. Phân ở dạng tinh thể muối kết tinh có màu vàng xám, dễ chảy nước, dễ tan trong nước, dễ vón cục, khó bảo quản và sử dụng. Là loại phân sinh lý chua, có thể bón cho nhiều loại cây trồng trên nhiều loại đất khác nhau, thích hợp cho cây trồng cạn như mía, ngô, bông hoặc dùng để tưới bón thúc cho nhiều loại rau, cây ăn quả 2-Phân Lân: Lân có vai trò quan trọng trong đời sống của cây trồng. Lân có trong thành phần của hạt nhân tế bào, rất cần cho việc hình thành các bộ phận mới của cây. Lân tham gia vào thành phần các enzim, các prôtêin, tham gia vào quá trình tổng hợp các axit amin. Lân kích thích sự phát triển của rễ cây, làm cho rễ ăn sâu vào đất và lan rộng ra chung quanh, tạo thêm điều kiện cho cây chống chịu được hạn và ít đổ ngã. Lân kích thích quá trình đẻ nhánh, nảy chồi, thúc đẩy cây ra hoa kết quả sớm và nhiều. Lân làm tăng đặc tính chống chịu của cây đối với các yếu tố không thuận lợi: chống rét, chống hạn, chịu độ chua của đất, chống một số loại sâu bệnh hại v.v… 2. 1- Phân Super Lân [Ca(H2PO4)2] có chứa 16-20% P2O5] 2. 2- Phân Lân nung chảy (Thermophotphat, Lân văn điển) có chứa 16% P2O5 Phôtphat nội địa: Đó là loại bột mịn, màu nâu thẫm hoặc đôi khi có màu nâu nhạt. Tỷ lệ lân nguyên chất trong phân thay đổi rất nhiều, từ 15% đến 25%. Loại phân thường có trên thị trường có tỷ lệ là 15 – 18%. Trong phân phôtphat nội địa, phần lớn các hợp chất lân nằm ở dạng khó tiêu đối với cây trồng. Phân có tỷ lệ vôi cao, cho nên có khả năng khử chua. Vì lân trong phân ở dưới dạng khó tiêu, cho nên phân chỉ dùng có hiệu quả ở các chân đất chua. Ở các chân ruộng không chua, hiệu lực của loại phân này thấp; ở loại đất này, loại phân này dùng bón cho cây phân xanh có thể phát huy được hiệu lực. Phân này chỉ nên dùng để bón lót, không dùng để bón thúc. Khi sử dụng có thể trộn với phân đạm để bón, nhưng trộn xong phải đem bón ngay, không được để lâu. Phân này dùng để ủ với phân chuồng rất tốt. Phân phôtphat nội địa ít hút ẩm, ít bị biến chất, cho nên có thể cất giữ được lâu. Vì vậy, bảo quản tương đối dễ dàng. * Phân apatit: Là loại bột mịn, màu nâu đất hoặc màu xám nâu. Tỷ lệ lân nguyên chất trong phân thay đổi nhiều. Thường người ta chia thành 3 loại: loại apatit giàu có trên 38% lân; loại phân apatit trung bình có 17 – 38% lân; loại phân apatit nghèo có dưới 17% lân. Thường loại apatit giàu được sử dụng để chế biến thành các loại phân lân khác, còn loại trung bình và loại nghèo mới được đem nghiền thành bột để bón cho cây. Phần lớn lân trong phân apatit ở dưới dạng cây khó sử dụng. Apatit có tỷ lệ vôi cao nên có khả năng khử chua cho đất. Phân này được sử dụng tương tự như phôtphat nội địa. Sử dụng và bảo quản phân này tương đối dễ dàng vì phân ít hút ẩm và ít biến chất. * Supe lân: Là loại bột mịn màu trắng, vàng xám hoặc màu xám thiếc. Một số trường hợp supe lân được sản xuất dưới dạng viên. Trong supe lân có 16 – 20% lân nguyên chất. Ngoài ra, trong phân này có chứa một lượng lớn thạch cao. Trong phân còn chứa một lượng khá lớn axit, vì vậy phân có phản ứng chua. Phân dễ hoà tan trong nước cho nên cây dễ sử dụng. Phân thường phát huy hiệu quả nhanh, ít bị rửa trôi. Supe lân có thể dùng để bón lót hoặc bón thúc đều được. Phân này có thể sử dụng để bón ở các loại đất trung tính, đất kiềm, đất chua đều được. Tuy nhiên, ở các loại đất chua nên bón vôi khử chua trước khi bón supe lân. Supe lân có thể dùng để ủ với phân chuồng. Nếu supe lân quá chua, cần trung hoà bớt độ chua trước khi sử dụng. Có thể dùng phôtphat nội địa hoặc apatit. Nếu đất chua nhiều dùng 15 – 20% apatit để trung hoà, đất chua ít dùng 10 – 15%. Nếu dùng tro bếp để trung hoà độ chua của supe lân thì dùng 10 – 15%, nếu dùng vôi thì tỷ lệ là 5 – 10%. Phân supe lân thường phát huy hiệu quả nhanh, cho nên để tăng hiệu lực của phân, người ta thường bón tập trung, bón theo hốc, hoặc sản xuất thành dạng viên để bón cho cây. Phân này có thể dùng để hồ phân rễ mạ. Supe lân ít hút ẩm, nhưng nếu cất giữ không cẩn thận phân có thể bị nhão và vón thành từng cục. Phân có tính axit nên dễ làm hỏng bao bì và dụng cụ đong đựng bằng sắt. * Tecmô phôtphat (phân lân nung chảy, lân Văn Điển): Phân có dạng bột màu xanh nhạt, gần như màu tro, có óng ánh. Tỷ lệ lân nguyên chất trong tecmô phôtphat là 15 – 20%. Ngoài ra trong phân còn có canxi 30% một ít thành phần kiềm, chủ yếu là magiê 12 – 13%, có khi có cả kali. Tecmô phôtphat có phản ứng kiềm, cho nên không nên trộn lẫn với phân đạm vì dễ làm cho đạm bị mất. Phân này không tan trong nước, nhưng tan được trong axit yếu. Cây sử dụng dễ dàng. Phân có thể sử dụng để bón lót hoặc bón thúc đều tốt. Tecmô phôtphat phát huy hiệu lực tốt ở các vùng đất chua, vì phân có phản ứng kiềm. Phân sử dụng có hiệu quả trên các vùng đất cát nghèo, đất bạc màu vì phân chứa nhiều vôi, có các nguyên tố vi lượng và một ít kali. Phân này thường được bón rải, ít khi bón tập trung và ít được sản xuất dưới dạng viên. Không sử dụng tecmô phôtphat để hồ phần rễ mạ. Tecmô phôtphat ít hút ẩm, luôn ở trong trạng thái tơi rời và không làm hỏng dụng cụ đong đựng. * Phân lân kết tủa: Phân có dạng bột trắng, nhẹ, xốp trong giống như vôi bột. Phân có tỷ lệ lân nguyên chất tương đối cao, đến 27 – 31%. Ngoài ra trong thành phần của phân có một ít canxi. Phân này được sử dụng tương tự như tecmô phôtphat. Phân ít hút ẩm cho nên bảo quản dễ dàng. 3- Phân Kali Kali có vai trò chủ yếu trong việc chuyển hoá năng lượng trong quá trình đồng hoá các chất dinh dưỡng của cây. Kali làm tăng khả năng chống chịu của cây đối với các tác động không lợi từ bên ngoài và chống chịu đối với một số loại bệnh. Kali tạo cho cây cứng chắc, ít đổ ngã, tăng khả năng chịu úng, chịu hạn, chịu rét. Kali làm tăng phẩm chất nông sản và góp phần làm tăng năng suất của cây. Kali làm tăng hàm lượng đường trong quả làm cho màu sắc quả đẹp tươi, làm cho hương vị quả thơm và làm tăng khả năng bảo quản của quả. Kali làm tăng chất bột trong củ khoai, làm tăng hàm lượng đường trong mía. 3. 1- Phân Clorua Kali (KCl) có chứa 60% K2O. 3. 2- Phân Sunphat Kali (K2SO4) có chứa 48-50% K2O Phân clorua kali: Phân có dạng bột màu hồng như muối ớt. Nông dân ở một số nơi gọi là phân muối ớt. Cũng có dạng clorua kali có màu xám đục hoặc xám trắng. Phân được kết tinh thành hạt nhỏ. Hàm lượng kali nguyên chất trong phân là 50 – 60%. Ngoài ra trong phân còn có một ít muối ăn (NaCl). Clorua kali là loại phân chua sinh lý. Phân này khi để khô có độ rời tốt, dễ bón. Nhưng nếu để ẩm phân kết dính lại với nhau khó sử dụng. Hiện nay, phân clorua kali được sản xuất với khối lượng lớn trên thế giới và chiếm đến 93% tổng lượng phân kali. Cloria kali có thể dùng để bón cho nhiều loại cây trên nhiều loại đất khác nhau. Có thể dùng phân này để bón lót hoặc bón thúc. Bón thúc lúc cây sắp ra hoa làm cho cây cứng cáp, tăng phẩm chất nông sản. Clorua kali rất thích hợp với cây dừa vì dừa là cây ưa clo. Không nên dùng phân này để bón vào đất mặn, là loại đất có nhiều clo, và không bón cho thuốc lá là loại cây không ưa clo. Phân này cũng không nên dùng bón cho một số loài cây hương liệu, chè, cà phê, vì phân ảnh hưởng đến phẩm chất nông sản. * Phân sunphat kali: Phân có dạng tinh thể nhỏ, mịn, màu trắng. Phân dễ tan trong nước, ít hút ẩm nên ít vón cục. Hàm lượng kali nguyên chất trong sunphat kali là 45 – 50%. Ngoài ra trong phân còn chứa lưu huỳnh 18%. Phân này có thể sử dụng thích hợp cho nhiều loại cây trồng. Sử dụng có hiệu quả cao đối với cây có dầu, rau cải, thuốc lá, chè, cà phê. Sunphat kali là loại phân chua sinh lý. Sử dụng lâu trên một chân đất có thể làm tăng độ chua của đất. Không dùng sunphat kali liên tục nhiều năm trên các loại đất chua, vì phân có thể làm tăng thêm độ chua của đất. * Một số loại phân kali khác: Phân kali – magiê sunphat có dạng bột mịn màu xám. Phân có hàm lượng K2O: 20 – 30%; MgO: 5 – 7%; S: 16 – 22%. Phân này được sử dụng có hiệu quả trên đất cát nghèo, đất bạc màu. Phân “Agripac” của Canada có hàm lượng K2O là 61%. Đây là loại phân khô, hạt to, không vón cục, dễ bón, thường được dùng làm nguyên liệu để trộn với các loại phân bón khác sản xuất ra phân hỗn hợp. Muối kali 40% có dạng muối trắng kết tinh có lẫn một ít vảy màu hồng nhạt. Ngoài hàm lượng kali chiếm 40% trong khối lượng phân, trong thành phần của phân còn có muối ăn với tỷ lệ cao hơn muối ăn trong phân clorua kali. Phân này cần được sử dụng hạn chế trên các loại đất mặn. 4- Phân vi lượng Các chất vi dinh dưỡng rất cần thiết để cây phát triển. Chúng là tác nhân hoạt hoá trong các hệ thống enzym. Tuy nhiên ranh giới giữa sự thiếu hụt phân vi lượng và mức gây độc của nó rất xít xao. Những rủi ro từ việc sử dụng phân vi lượng đang trở thành một vấn đề cần được quan tâm. Vì vậy sự hiểu biết về các loại phân vi lượng là rất cần thiết. Nguồn dinh dưỡng của cây lấy từ đất các chất hữu cơ trong đất nhờ sự cố định đạm trong các quá trình sinh học, việc bón phân, tưới nước, lũ lụt v.v... Ngoài các loại phân đa lượng như N, P, K thì lưu huỳnh (S), canxi (Ca) và magiê (Mg) cũng là những chất dinh dưỡng (phân bón trung lượng) đóng vai trò quan trọng thứ hai được dùng với khối lượng ngày càng tăng. Các nguyên tố như sắt (Fe), kẽm (Zn), Mangan (Mn), bo (B), đồng (Cu), molypđen (Mo), tuy được dùng với khối lượng rất nhỏ (phân bón vi lượng) nhưng lại rất cần thiết để cho cây tồn tại và phát triển. Các chất vi dinh dưỡng có nhiều hay ít phụ thuộc vào 3 yếu tố: Độ phong phú của các khoáng vô cơ liên kết với chúng. - Các tình trạng về mặt hoá học của đất (đặc biệt là độ pH). - Mức luân chuyển của các chất vi dinh dưỡng ở dạng dễ hấp thụ trong môi trường đất. Nhiều chất vi dinh dưỡng không di chuyển, chúng thường tạo phức với chất hữu cơ, đất sét tạo thành những hợp chất cố định trong đất. Chúng được hấp thụ dưới dạng các ion qua rễ hoặc lá cây. Một số loại muối thường được sử dụng như một nguồn phân vi lượng bón cho cây vì nó rẻ và có thể bón cho cây bằng những thiết bị thông thường. Mỗi một loại phân vi lượng được bón cho cây bằng phương pháp thích hợp, phụ thuộc vào độc tính và phản ứng của nó đối với đất. Trong các hợp chất chứa magiê, canxi và lưu huỳnh, canxi sunfat và magiê sufat có khả năng cung cấp lưu huỳnh với hàm lượng vừa phải. Khi canxi sunfat (thạch cao) được bón cho đất, độ pH của đất thay đổi ít, đặc biệt đối với đất có độ pH = 5,5 - 7,5. Phân magiê có cả những loại tác dụng nhanh hay chậm. Loại tác dụng nhanh bao gồm: - MgSO4 dưới dạng muối Epsom (10%) hay Kieserit (16% Mg). - Kali, magiê sunfat. Magiê cacbonat là loại phản ứng chậm. Canxi chỉ được bón cho cây trong trường hợp đã xác định sự thiếu hụt canxi và bón bằng vôi. Các loại phân bón canxi tác dụng nhanh gồm: - Canxi clorua (rắn hay dung dịch). - Phân bón lá có thành phần canxi Nhu cầu lưu huỳnh của các loại cây như đỗ, hạt cải dầu đang tăng làm tăng dáng kể việc sử dụng phân bón chứa lưu huỳnh. Các muối sunfat tan trong nước (K2SO4, MgSO4 [18% S]) có tác dụng tốt khi bón cho cây đang phát triển. Lưu huỳnh nguyên tố cũng có thể được bón cho đất dưới dạng bột hay urê có vỏ bao phủ bằng lưu huỳnh (10-20% S). Sắt làm cây có màu xanh, giúp cho quá trình tổng hợp protein, quang hợp và tham gia vào quá trình trao đổi chất. Sắt thường được phun lên lá dưới dạng chelat như Fe - EDTA (9% Fe) hay Pe - EDDHA (6% Fe). Mangan góp phần tạo nên enzym, tham gia vào quá trình quang hợp và trao đổi chất. Hiện tượng thiếu mangan chủ yếu xảy ra ở đất hơi chua hoặc trung tính. MnSO4 (24 - 32% Mn) và Mn - EDTA (13% Mn) đều tan trong nước và có tác dụng nhanh nên có thể bón trực tiếp vào đất hay phun lên lá. Kẽm làm tăng tốc độ trao đổi chất của cây. Thiếu kẽm, các chức năng tế bào của cây bị suy yếu. Kẽm thường được bón cho cây bằng cách phun lên lá dung dịch ZnSO4 (23% Zn) hay dùng Zn - EDTA bón trực tiếp cho đất. Lượng đồng thiếu hụt có thể được bổ sung dễ dàng trong một thời gian dài bằng cách bón đồng sunfat hay đồng oxit. Chelat hay đồng sunfat trung tính (25% đồng) rất phù hợp cho việc bón lá. Bo cần thiết cho quá trình trao đổi chất của cây và quá trình phân chia tế bào. Khi cây có nhu cầu nên bón borax cho cây (11-22%B) nhưng với liều lượng khác nhau tùy thuộc vào mức độ hấp thụ của cây. Molypđen cũng góp phần tạo nên enzym rất cần thiết cho vi khuẩn cố định đạm nhưng được dùng với khối lượng nhỏ. Đối với dung dịch natri molypdat và amoni molypdat (40-50% Mo) cần khoảng 0,5-1kg Mo/ha và ít hơn 100g Mo/ha khi dùng bón cho lá. II. Phân Hổn Hợp: Là những loại phân có chứa ít nhất là 2 dưỡng chất. Chúng bao gồm phân trộn và phân phức hợp. Hàm lượng dinh dưỡng trong phân theo thứ tự là N, P, K được tính theo nồng độ phần trăm. Ví dụ: Phân NPK 16-16-8 tức là trong 100kg phân trên có 16kg đạm nguyên chất, 16kg P2O5 và 8kg K2O…Ngoài các chất đa lượng N, P, K hiện nay ở một số chủng loại phân còn có cả các chất trung và vi lượng. Ví dụ: Phân NPK Sao Vàng 16. 16. 8+TE … Thông thường phân hổn hợp có 2 loại: 1. - Phân trộn: Là phân được tạo thành do sự trộn đều các loại phân N. P. K… mà không có sự tổ hợp hóa học giữa những chất đó. Loại phân này thường có nhiều màu. 2. - Phân phức hợp: Là loại phân có được do con đường phản ứng hóa học từ những nguyên liệu căn bản để tạo ra. 3. -Các dạng phân hổn hợp: 3. 1- Các dạng phân đôi: Là loại phân hỗn hợp có 2 dưỡng chất quan trọng - MAP (Monoamonium Phosphate) hàm lượng phổ biến là 12-61-0 - MKP (Mono potassium Phosphate) hàm lượng phổ biến là 0-52-34 - DAP (Diamon Phosphate) hàm lượng phổ biến là 18-46-0 3. 2- Các dạng phân ba NPK thường là: 16-16-8, 20-20-15, 24-24-20… 3. 3- Phân chuyên dùng: Là dạng phân bón hổn hợp có chứa các yếu tố đa, trung, vi lượng phù hợp với từng loại cây trồng, từng thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây. - Ưu điểm của phân chuyên dùng: rất tiện lợi khi sử dụng , góp phần làm giảm chi phí sản xuất do đã được tính toán liều lượng phân tùy theo từng loại cây, tùy theo giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây trồng nên đảm bảo được năng suất, chất lượng cây trồng. - Hiện nay trên thị trường có nhiều chủng loại phân chuyên dùng, khi sử dụng nên chú ý theo hướng dẫn của nhà sản xuất. III. Vôi 1. -Vai trò tác dụng của phân vôi: Cung cấp Canxi (Ca) cho cây trồng, Ca là một nguyên tố dinh dưỡng rất cần cho cây vì Ca chiếm tới 30% trong số các chất khoáng của cây. Cải tạo đất chua, mặn, tạo điều kiện cho vi sinh vật hoạt động tốt, phân giải các chất hữu cơ trong đất, tăng độ hòa tan các chất dinh dưỡng và tăng khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng của cây, diệt được một số bệnh hại cây trồng, khử độc cho đất do thừa nhôm (Al), Sắt (Fe), H2S… 2. -Một số dạng vôi bón cho cây * Vôi nghiền: Các loại: đá vôi, vỏ ốc, vỏ sò…nghiền nát. Có tác dụng chậm nên bón lót lúc làm đất, thường bón từ 1-3 tấn/ha. Đất sét bón 1 lần với lượng lớn, sau vài năm bón lại. Đất cát bón hàng năm lượng ít hơn. Khi bón vôi nên kết hợp với phân hữu cơ để tăng hiệu quả của phân, không bón cùng đạm vì sẽ làm mất phân đạm. * Vôi nung (vôi càn long): Do nung CaCO3 thành CaO, rồi sử dụng. Tác dụng nhanh hơn vôi nghiền, dùng xử lý đất và phòng trừ sâu bệnh. Tuy nhiên do có hoạt tính mạnh khi sử dụng nên lưu ý để tránh ảnh hưởng tới cây trồng. * Thạch cao: Là dạng vôi đặc biệt, tác dụng nhanh, sử dụng rất tốt cho cây khi tạo trái |
|
|
| DHTP5_N1_NDOHAGIANG_09076841 | Feb 2 2012, 12:07 PM Post #25 |
|
chào nhóm! Thuốc Thiram 85 WP có nguồn gốc sinh học hay hoá học? ở giống ngô kháng sâu bệnh, khả năng kháng từng loại sâu phụ thuộc vào yếu tố nào? Theo bạn trồng ngô vào mùa nào là thích hợp nhất? Ruộng ngô nếu bón nhiều phân lân, kali sẽ có biểu hiện gì? |
|
|
| DHTP5-N1-VoThiAnhThu-09086791 | Feb 3 2012, 11:35 PM Post #26 |
|
chào nhóm!cho mình hỏi: 1.Phân hữu cơ sinh học HC5 bột cá cung cấp những acid amin nào? 2.Tại sao bón lot lại không bón phân kali? |
|
|
| DHTP5-N2-TranThiLeThuy-09210471 | Feb 3 2012, 11:56 PM Post #27 |
|
chào nhóm! cho mình hỏi trong Các loại phân bón ứng dụng CNSH trên cây ngô,mà cụ thể là phân hữu cơ và phân vô cơ( nói chung),trong hai loại cơ bản này thì loại nào có ứng dụng tích cực hơn: tức là đạt hiệu quả về hiệu suất, dễ dàng thực hiện, hay có những ưu điểm tốt hơn...? tại sao? |
|
|
| DHTP5-N2-LeThiHongCam-09209411 | Feb 5 2012, 12:12 PM Post #28 |
|
theo mình thì bón phân hữu cơ sẽ có hiệu quả tích cực hơn. Sau đây mình xin đưa ra một số thông tin về phân hữu cơ và phân vô cơ cho các bạn tham khảo thêm: 1. Phân Hữu cơ là chỉ tiêu đánh giá độ phì nhiêu của đất, quyết định kết cấu của đất, độ tơi xốp thoáng khí của đất, quyết định độ thấm nước và giữ nước của đất, quyết định hệ đệm của đất, quyết định tới số lượng và khả năng hoạt động của vi sinh vật trong đất. Tuy có vai trò quan trọng như vậy nhưng sự hiểu biết và sử dụng của nông dân về phân hữu cơ lại rất khác nhau, trong đó nông dân trồng lúa gần như không biết, không dùng đến phân hữu cơ, ngược lại các nhà vườn lại đã biết cách bón lót phân hữu cơ kết hợp bồi liếp hàng năm để tăng năng suất và chất lượng rau quả. Ngoài các tác dụng cơ bản trên, việc bón phân hữu cơ còn làm tăng hiệu quả sử dụng của phân vô cơ, dinh dưỡng vô cơ tạm thời được giữ lại để cung cấp từ tử cho cây trồng, hạn chế rửa trôi. Từ đấy mà làm giảm số lượng sử dụng phân vô cơ tạo nên nền nông nghiệp bền vững và hiệu quả. Phân bón hữu cơ có bổ sung vi sinh vật có lợi là sản phẩm được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu hữu cơ khác nhau, nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, cải tạo đất, chứa một hay nhiều chủng vi sinh vật sống được tuyển chọn với mật độ đạt tiêu chuẩn qui định, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản. Phân hữu cơ vi sinh vật không gây ảnh hưởng xấu đến người, động vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản. Bên cạnh việc cải thiện năng suất cây trồng cũng như phẩm chất nông sản (mà biểu hiện rõ nhất thông qua chỉ số dư tồn nitrate trong sản phẩm), hiệu quả của phân hữu cơ vi sinh còn thể hiện qua việc cải thiện tính chất đất bao gồm đặc tính vật lý, hoá học và sinh học đất. Chất hữu cơ còn là nguồn thức ăn cho các loài sinh vật sống trong đất. Phần lớn vi sinh vật trong đất thuộc nhóm hoại sinh. Nguồn thức ăn chủ yếu của nhóm này là dư thừa và thải thực vật. Cung cấp chất hữu cơ giúp duy trì nguồn thức ăn, tạo điều kiện phát triển sinh khối, đa dạng chủng loại và kiềm hãm sự gia tăng của các loài vi sinh vật có hại. Duy trì thế cân bằng vi sinh vật có lợi trong đất chủ yếu là bảo vệ và cân bằng vi sinh vật có ích, cũng như các loài thiên địch có lợi trên đồng ruộng. Do đó, thường xuyên bổ sung chất hữu cơ cho đất cũng như các nguồn vi sinh vật có lợi để tạo điều kiện thuận lợi cho bộ rễ phát triển hạn chế mầm bệnh. Việc bón phân hữu cơ có bổ sung nguồn vi sinh vật đất như nấm Trichoderma sẽ làm giảm tác nhân gây bệnh thối rễ trên cà chua và ớt, bổ sung các nguồn vi sinh vật cố định đạm và hoà tan lân, tăng cường nguồn phân đạm cố định được và các hợp chất lân kém hoà tan trong đất trở thành những dạng hữu dụng, dễ tiêu cho cây trồng. 2. Phân vô cơ: bón phân vô cơ hợp lí có ảnh hưởng totts đến sự phát triển của vsv đất. Bón phân vô cơ cùng với phân chuồng cùng với rơm rạ làm cho các loại hình Vsv có ít như Azotobacto, VK ôn hòa, nitrat hóa, phân giả xenlulozo tăng 3-4 lần với phân khoang đơn thuần . Bón phân vi sinh có tác dụng làm tăng số lượng VSVPGL trong đất, dẫn đến tăng cường độ phân giải lân khó tan trong đất 23-35%. Cây trồng phát triển tốt hơn, thân lá cây mập hơn, to hơn, bản lá dày hơn, tăng sức đề kháng sâu bệnh, tăng năng suất đậu tương 5-11%, lúa 4,7-15% |
|
|
| DHTP5-N2-LeThiHongCam-09209411 | Feb 5 2012, 12:18 PM Post #29 |
|
mình xin trả lời câu hỏi só 1 bạn thu như sau:Theo Hiệp hội phân bón Việt Nam cá khô làm phân chứa 47,61% chất đạm, 5,92% chất béo, 2,78% chất xơ, 39,08% chất khoáng và 3,08% muối khoáng (Tuyển tập phân bón Việt Nam, tập 1, trang 136), cho thấy bột cá làm phân bón có chứa thành phần chất đạm và chất khoáng rất cao, đặc biệt là có chứa nhiều loại axít amin như Lysine, Alanine, Arginine, Cystine, Glycine, Isoleucine, Proline, Threonine, Tryosine, Histidine... Từ năm 2007 công ty phân bón Sao Mai đã nghiên cứu và sản xuất thành công hai sản phẩm phân bón hữu cơ sinh học có bổ sung bột cá: HC5 BỘT CÁ (bao 50 kg) và MAXI – BỘT CÁ (bao 40 kg) để phục vụ bà con nông dân bón cho cây trồng, sản xuất ra nông sản có chất lượng và an toàn. nó có vai trò như: Cung cấp đầy đủ các dưỡng chất cần thiết như đạm, lân, kali, trung lượng và vi lượng (Ca, Mg, S, Cu, Zn, Mo, Co, Bo, Mn…) đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tối ưu. Bộ rễ cây phát triển nhanh và mạnh, cây xanh tốt, cứng chắc, tăng khả năng đề kháng của cây đối với các loại sâu bệnh và điều kiện bất lợi của ngoại cảnh. Giúp cho các vườn cây bị kiệt sau một chu kỳ khai thác dài mau chóng phục hồi, phục hồi các tổn thương ở rễ cây do nấm bệnh, tuyến trùng, virus và các điều kiện bất lợi của ngoại cảnh gây ra (đặc biệt là cây tiêu – cây trồng có bộ rễ tương đối yếu rất dễ bị các tổn thương do sâu bệnh và các tác động từ bên ngoài)..... |
|
|
| DHTP5-N2-HTThuyLoan-09212761 | Feb 5 2012, 09:41 PM Post #30 |
|
chào nhóm, cho mình hỏi: 1. "Nhiều nơi người ta đã đưa trộn sinh khối hoặc bào tử các loại vi sinh vật hoà tan lân sau khi nuôi cấy và nhân lên trong phòng thí nghiệm, với bột phosphorit hoặc apatit rồi bón cho cây". Trộn với bột phosphorit hoặc apatit để làm gì nếu không trộn có ảnh hưởng gì không? 2. nhóm có thể nêu một số đặc điểm của loài VA mycorrhiza được không, và tại sao lại nuôi cấy loài này rất khó? |
|
|
| 1 user reading this topic (1 Guest and 0 Anonymous) | |
| Go to Next Page | |
| « Previous Topic · 9. Ứng dụng CNSH trong bón phân và xử lý bệnh cho bắp · Next Topic » |
| Track Topic · E-mail Topic |
9:15 PM Jul 11
|













Thiếu canxi.
Thiếu magie

9:15 PM Jul 11