- Posts:
- 31
- Group:
- DHTP5-N2
- Member
- #984
- Joined:
- Dec 28, 2011
|
Nội dung
Spoiler: click to toggle Mở đâuSpoiler: click to toggle I.Mở đầu
Cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội, ngành nông nghiệp cũng có những thay đổi rất đáng kể. Nhiều máy móc tiên tiến , công nghệ trồng trọt, giống mới…. ra đời, đã đáp ứng kịp với những nhu cầu càng ngày càng cao. Việt Nam là nước nông nghiệp chủ yếu sản xuất cây lượng thực mạnh, là nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới, và bên cạnh đó còn có một cây lương thực quan trong đứng hàng thứ hai sau cây lúa đó là cây ngô. Tại Viêt Nam cây ngô có một tầm vóc hết sức quan trọng, nó góp phần cung cấp một phần lương thực cho con người, bên cạnh đó thì cây ngô còn phục các nhu cầu khác cho con người như: nước uống, sản xuất thức ăn gia súc, các món ăn mang hương vị của Việt Nam...Bên cạnh sự phát triển ngày càng tiên tiến của xã hội thi việc ứng dụng các phương thức hiện đại vào sản xuất để tạo ra năng suất cao cho cây bắp, trước tiên thì ta ưu tiên tạo ra những loại bắp có năng suất cao, thích hợp với điều kiện và khí hậu của Việt Nam bên cạnh đó thì việc tạo ra các loại phân bón thích hợp cho cây, an toàn, ít tốt kém thì hết sức quan trọng. Công nghê sinh học được ứng dụng để tạo ra những bước ngoặc được nói trên, ngoài ra việc ứng dụng công nghê sinh học còn giúp đưa ra những giai pháp an toàn để xử lý bệnh cho cây không độc hại và gây ô nhiễm môi trường. Thực tế sản xuất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam đã khẳng định, phân bón trong giai đoạn vừa qua đã có nhiều đóng góp tích cực. Số lượng, chất lượng và chủng loại phân bón ngày một tăng cao, góp phần quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực. Để phát triển nông nghiệp bền vững, cần phải có chế độ dinh dưỡng an toàn cho đất và cây trồng: đó là đảm bảo cung cấp đủ liều lượng thiết yếu đúng lúc cây cần, theo tỷ lệ cân đối giữa các chất trong phân bón phù hợp với yêu cầu từng loại cây trên các vùng đất trồng dưới các điều kiện thời tiết, khí hậu khác nhau.Bảo đảm an toàn dinh dưởng cho cây và đất trồng không chỉ nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn góp phần bảo vệ môi sinh, môi trường thông qua việc tạo thế cân bằng trong tự nhiên, giảm bớt hóa chất độc sử dụng trong phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng.
Nội dung 1. Giới thiệu chung về Công Nghệ Sinh Học.Spoiler: click to toggle 1.1.Khái niệm.Công nghệ sinh học là bộ môn tập hợp các ngành khoa học và công nghệ gồm: sinh học phân tử, di truyền học, vi sinh vật học, sinh hóa học, công nghệ học, nhằm tạo ra các quy trình công nghệ khai thác ở quy mô công nghiệp các hoạt động sống của vi sinh vật, tế bào động, thực vật để sản xuất các sản phẩm có giá trị phục vụ đời sống, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường.  CNSH được chia làm 3 giai đoạn chính trong sự phát triển: CNSH truyền thống: chế biến các thực phẩm dân dã đã có từ lâu đời như tương, chao, nước mắm ... theo phương pháp truyền thống; xử lí đất đai, phân bón để phục vụ nông nghiệp ... CNSH cận đại: có sử dụng công nghệ trong quá trình chế biến sản phẩm như việc sử dụng các nồi lên men công nghiệp để sản xuất ở quy mô lớn các sản phẩm sinh hạt như mì chính, acid amin, acid hữu cơ, chất kháng sinh, vitamin, enzym ... CNSH hiện đại: Công nghệ di truyền, công nghệ tế bào, công nghệ enzym và protein, công nghệ vi sinh vật, công nghệ lên men, công nghệ môi trường... 1.2.Vai trò của công nghệ sinh học.CNSH đã mang lại những hiệu quả to lớn trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, thuỷ sản, y tế, môi trường… bằng việc tạo ra các công nghệ mới, các phương pháp chữa bệnh mới, các sản phẩm mới liên quan đến giống cây trồng, vật nuôi, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, vacxin cho người và vật nuôi, dược phẩm, chip sinh học… Nhờ CNSH con người đã giải mã gen người, nhân bản vô tính động vật, chuyển gen từ cơ thể sinh vật này sang cơ thể sinh vật khác… Việc ứng dụng công nghê sinh học trong nông nghiệp con có tác dụng: -Không gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng, không gây ô nhiễm môi trường sinh thái -Có tác dụng cân bằng hệ sinh thái ( vi sinh vật, dinh dưỡng …) trong môi trường đất nói riêng và môi trường nói chung. -Ứng dụng các chế phẩm sinh học không làm hại kết cấu đất, không làm chai đất, thóai hóa đất mà còn góp phần tăng độ phì nhiêu của đất. -Có tác dụng đồng hóa các chất dinh dưỡng, góp phần tăng năng suất và chất lượng nông sản phẩm. -Có tác dụng tiêu diệt côn trùng gây hại, giảm thiểu bệnh hại, tăng khả năng đề kháng bệnh của cây trồng mà không làm ảnh hưởng đến môi trường như các lọai thuốc BVTV có nguồn gốc hóa học khác. -Có khả năng phân hủy, chuyển hóa các chất hữu cơ bền vững, các phế thải sinh học, phế thải nông nghiệp, công nghiệp, góp phần làm sạch môi trường. Cho đến nay, chúng ta chưa thể hình dung được hết những gì mà CNSH có thể mang lại trong những thập niên tới. Trong báo cáo đầu năm 2003, Liên hợp quốc đã nhận định rằng: “CNSH có tiềm năng trở thành công cụ sức mạnh giải quyết được các thách thức về an ninh lương thực, bệnh dịch…”. Ngân hàng thế giới cũng đã tài trợ tổng cộng 2,3 tỷ USD cho 35 quốc gia để nghiên cứu về ứng dụng CNSH trong sản xuất nông nghiệp. Điều đó cho thấy CNSH, trong đó có công nghệ biến đổi gen là yếu tố then chốt của ngành nông nghiệp mỗi quốc gia trong tương lai rất gần. Và trong bài tiểu luận này nhóm xin trình bày về ứng dụng của CNSH trong trong bón phân và xử lý bệnh cho bắp. 2. Giới thiệu về cây ngôSpoiler: click to toggle 2.1. Tình hình phát triển của cây ngôSpoiler: click to toggle Ngô là cây trồng quan trọng thứ ba trên thế giới sau lúa mì và lúa gạo. Tất cả các bộ phận của cây ngô từ hạt, đến thân, lá ngô đều có thể sử dụng được để làm thức ăn cho người, gia súc hoặc sản xuất ethanol để chế biến xăng sinh học. Ngày nay, khi mà nguồn xăng dầu hóa thạch đang cạn kiệt và ngày càng tăng giá thì ngành trồng ngô trên thế giới để sản xuất xăng sinh học càng phát triển. Ngô là cây trồng có năng suất rất cao, năng suất kỷ lục ở Mỹ đã đạt tới 22 tấn hạt/ha. Những nước trồng ngô nhiều là Mỹ, Nga, Braxin, Ấn độ, Inđônixia.… Ở nước ta, diện tích, năng suất và sản lượng ngô không ngừng tăng lên. Tuy nhiên sản lượng ngô trong nước vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu mà hàng năm chúng ta còn phải nhập khẩu khá nhiều ngô hạt (trị giá trên 500 triệu USD) để sản xuất thức ăn gia súc. Trong những năm tới, ngô vẫn là cây có vai trò quan trọng ở nước ta Tuy nhiên trong những năm gần đây, diện tích đất nông nghiệp nói chung và diện tích đất trồng ngô nói riêng có xu hướng đang bị thu hẹp dần do đất dốc, rửa trôi, bạc màu, thiếu nước, quá trình đô thị hoá và gia tăng nhanh dân số. Dù đã có những chính sách ưu tiên cho phát triển nông nghiệp, đưa các giống mới vào sản xuất, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong canh tác để tăng năng suất và thu nhập cho người dân nhưng vấn đề đảm bảo an ninh lương thực không đảm bảo. Thực tế cho thấy, việc sử dụng nhiều phân vô cơ tuy có làm tăng năng suất, sản lượng nhưng lại gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khoẻ của cộng đồng. Mặt khác, bón phân theo phương pháp truyền thống không những tốn kém mà còn gây lãng phí do hiệu quả sử dụng phân thấp, phân bón có thể mất do bay hơi, rửa trôi, nhất là ở những vùng đất dốc dẫn đến chi phí đầu tư trên một đơn vị diện tích tăng, hiệu quả kinh tế đem lại thấp. Vì vậy, việc phát triển và ứng dụng CNSH trong phân bón sẽ một phần nào giúp cải thiện những khó khăn mà các loại phân bón truyền thống mang lại.
2.2. Đặc điểm chung của cây ngô.Spoiler: click to toggle Ngô là cây trồng nhiệt đới, được trồng phổ biến trong khoảng vĩ độ 30–55. Ngô thích hợp với thời tiết ấm, nhiệt độ thích hợp cho giai đoạn sinh trưởng mạnh là từ 21-27oC. Khi nhiệt độ dưới 19oC ngô sinh trưởng phát triển chậm lại. Lượng mưa thích hợp nhất cho ngô trong khoảng 600-900 mm/năm.   Ngô là cây có thể trồng được nhiều vụ trong năm, nước ta trồng vụ đông xuân và hè thu ở miền Nam, vụ xuân, vụ đông ở miền Bắc. Cây ngô không kén đất, do vậy có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau, song thích hợp nhất là đất trung tính (pH từ 6,0-7,2), tơi xốp, thoát nước tốt, giàu mùn và dinh dưỡng. 2.3. Phân loại ngôSpoiler: click to toggle  Các giống ngô được Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận giống từ 1980 đến nay •Các giống ngô thụ phấn tự do •Các giống ngô lai quy ước -Các giống ngô nhập nội -Các giống do Viện nghiên cứu ngô tạo ra -Các giống do Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam tạo ra -Các giống do Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng Trung ương tạo ra -Các giống do công ty liên doanh nước ngoài và trong nước tạo ra •Các giống ngô lai không quy ước -Các giống ngô nếp -Các giống ngô đường -Các giống ngô rau 2.4. Vai trò của ngôSpoiler: click to toggle Ngô là một loại ngũ cốc quan trọng, đứng thứ ba sau lúa mì và lúa gạo. Là cây lương thực, giàu dinh dưỡng hơn lúa mì và lúa gạo, góp phần nuôi sống gần 1/3 dân số trên toàn thế giới. Ở Việt Nam, ngô là cây lương thực đứng hàng thứ 2 sau lúa gạo. Diện tích gieo trồng và năng suất, sản lượng ngô cũng tăng mạnh, từ hơn 200 ngàn ha với năng suất 1 tấn/ha (năm 1960), đến năm 2009 đã vượt ngưỡng 1 triệu ha với năng suất 43 tạ/ha. So với các nước thì năng suất ngô ở ta vẫn thuộc loại khá thấp. Sản lượng ngô trong nước vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu mà hàng năm chúng ta còn phải nhập khẩu khá nhiều ngô hạt (trị giá trên 500 triệu USD) để sản xuất thức ăn gia súc. Hiện nay và trong những năm tới, ngô vẫn là cây ngũ cốc có vai trò quan trọng ở nước ta.  Ngô có nhiều công dụng. Tất cả các bộ phận của cây ngô từ hạt, đến thân, lá đều có thể sử dụng được để làm lương thực, thực phẩm cho người, thức ăn cho gia súc, làm nguyên liệu cho công nghiệp (rượu ngô, sản xuất ethanol để chế biến xăng sinh học, thậm chí còn còn chế biến tạo ra một số vật dụng đồ dùng như điện thoại, đồ trang sức của phụ nữ…), một số bộ phận của ngô có chưa một số chất có vai trò như một loại thuốc chữa bệnh, làm chất đốt … -Ngô cung cấp giá trị dinh dưỡng cao phục vụ cho các bửa ăn hàng ngày của người Việt Nam -Ngô là nguồn lương thực thực phẩm thiết yếu và quan trọng -Ngô được sử dụng làm nguồn thức ăn chế biến phục vụ trong chăn nuôi gia súc gia cầm -Ngoài ra ngô còn là nguồn thuốc chửa bệnh có hiệu quả -Ngô còn là nhiên liệu chất đốt phục vụ cho công nghiệp 2.5. Triển vọng và thách thức của việc trồng ngô ở Việt Nam.Spoiler: click to toggle 2.5.1. Những thuận lợi và triển vọng . Ở nước ta ngô là cây lương thực sau lúa, những năm trở lại đây sản xuất ngô đang được chú ý do ngô không những là lương thực mà còn sử dụng làm thức ăn gia súc trong khi cơ cấu nông nghiệp đã chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng ngành trồng trọt và tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi nên nhu cầu về ngô là khá lớn… -Điều kiện tự nhiên của Việt Nam hoàn toàn thích hợp cho sản xuất ngô, đặc biệt là các vùng miền núi trong điều kiện canh tác lúa bị hạn chế. -Nông dân Việt Nam có kinh nghiệm trồng ngô từ lâu đời. -Đầu tư cho khoa học công nghệ nông nghiệp ngày càng tăng, kết hợp với tiếp thu ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ về ngô của các nước trong khu vực và thế giới . -Ngô còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị, chúng ta cũng đã bước đầu xuất bán được giống ngô sản xuất trong nước. Trong tương lai, khi đã sản xuất đủ cho nhu cầu nội địa, chắc chắn ngô sẽ là mặt hàng xuất khẩu của nước ta giống như lúa gạo, vì nhu cầu lương thực và chế biên của thế giới cũng ngày một tăng, nhiều nước trên thế giới sử dụng ngô là lương thực chính, trong khi các giống ngô được trồng ở Việt Nam đều có chất lượng tốt. -Hệ thống cơ chế, chính sách của nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện phát triển sản xuất lương thực trong đó có sản xuất ngô. -Việt Nam đã gia nhập WTO, đây là cơ hội lớn tạo điều kiện thuận lợi cho các loại sản phẩm nông nghiệp khác có quyền bình đẳng tham gia vào thị trường thương mại nông sản của thế giới 2.5.2 Những trở ngại và thách thức -Sản xuất ngô ở nước ta vẫn mang tính nhỏ lẻ và phân tán, đặc biệt là các vùng miền núi, khó cơ giới hóa. -Quá trình áp dụng giống mới chụi thâm canh, phát triển thành những vùng sản xuất hàng hóa là điều kiện thuận lợi để các loại dịch hại mới nguy hiểm, khó phòng trừ. Trong vài năm tới, có thể sẽ có mặt cây ngô biến đổi gen ở nước ta, là các giống ngô có nhiều ưu thế về năng suất. -Tham gia vào thị trường thương mại thế giới có sự đòi hỏi rất khắt khe về chất lượng nông sản. Do vậy phải có sự đầu tư một cách đồng bộ từ sản xuất đến đánh giá kiểm định chất lượng, bảo quản và vận chuyển tiêu thụ
3. Phân bón và lợi ích của chúng trên cây ngô.Spoiler: click to toggle 3.1. Phân bón trên ngôPhân bón được bổ sung trên ngô để bổ sung dưỡng chất cho đất được dùng để thúc đẩy ngô phát triển; các loại chất dinh dưỡng có trong phân bón là nitơ, phốt pho, và kali và các chất dinh dưỡng khác ('vi chất dinh dưỡng') được thêm vào với những số lượng nhỏ. Phân bón thường được dùng rải trực tiếp trên đất (gốc ngô) hoặc được phun trên lá . Phân bón thường được chia thành phân bón hữu cơ và vô cơ, với sự khác biệt lớn giữa chúng là nguồn gốc, chứ không phải là những sự khác biệt trong thành phần dinh dưỡng. Các loại phân bón hữu cơ và một số loại phân bón khai thác vô cơ đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ, trong khi các loại phân bón hữu cơ sinh học được phát triển mạnh mẻ đem lại lợi ích to lớn cho người nông dân và tránh được sự ô nhiễm của môi trường. 3.2. Cách bón phânBón lót : Bón lót toàn bộ lượng phân chuống (hoặc phân hữu cơ vi sinh) với toàn bộ phân lân, đôi khi bón thêm 1/3 lượng đạm urê. Ở những lô ruộng to, gieo hạt bằng máy, lượng phân trên sau khi trộn đều được rắc đều trên mặt đất, dùng bừa đĩa vùi phân trước lần bừa san bằng mặt ruộng. Thông thường áp dụng bón lót vào rãnh hoặc hốc và lấp đất trước khi gieo hạt hoặc đặt bầu.  Bón thúc : Bón thúc lần 1 khi ngô có 3-4 lá thật (10-15 ngày sau gieo) với 1/2 lượng đạm và 1/2 lượng kali. Rễ đốt giai đoạn này chưa phát triển mạnh và không có tính hướng phân, do đó để rễ tiếp xúc được phân nhanh nên rạch một rãnh nông 5 cm cách gốc hàng ngô 5 cm, rắc phân rồi lấp đất lại.Bón thúc lần 2 khi ngô có 9-10 lá (sau gieo 35-40 ngày), bón nốt 1/2 lượng đạm và 1/2 lượng kali. Thời điểm này hệ thống rễ đã phát triển rất mạnh, bao phủ hết khu vực quanh gốc, do vậy không cần rạch rãnh mà rải đều phân theo hàng cách gốc 5 cm trên mặt đất rồi kết hợp vun cao lấp phân. Bón thúc bằng cách tưới nước : Bón thúc cho ngô còn được thực hiện theo phương pháp tưới. Tiến hành hòa nước phân hữu cơ (nước phân chuồng, phân bắc, nước giải) hoặc phân vô cơ vào nước và tưới cho ngô. Ở những nơi trồng ngô đông trên đất ướt thường áp dụng phương pháp này. 3.3. Liều lượng bónBón đủ mức phân cần cho cây ngô để đạt được năng suất cao và có hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào trình độ thâm canh và khả năng đầu tư mà mức phân bón cũng phải thay đổi cho phù hợp. Loại đấtGiống ngôLiều lượng bón*, (kg/ha) NP2O5K2O Đất phù sa ven sôngLai Thuần100 – 120 80 – 9045 – 60 45 – 5045 – 60 45 – 50 Đất phù sa trong đêLai Thuần120 – 150 90 – 10060 – 70 45 – 6090 – 100 60 – 70 Đất bạc màu, đất xám, đất cát biểnLai Thuần120 – 150 100 – 12060 – 70 45 – 6090 – 100 75 – 80 Ghi chú: Trên nền phân chuồng 8 – 14 tấn/ha. Nếu bón đầy đủ N, P, K một cách cân đối thì hiệu suất sẽ đạt 11 – 12 kg ngô hạt/kg NPK nguyên chất 3.4. Nguyên tắc bón phân-Đúng liều lượng: Bón phân cho ngô đảm bảo đủ lượng dinh dưỡng của cây cần trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển của cây. -Đúng chủng loại: Bón đúng loại phân mà cây còn đói. -Bón đúng thời điểm: Bón đúng giai đoạn cần thiết vào thời kỳ sinh trưởng của cây ngô, bón sớm hoặc muộn hơn, bón lai rai không những có hại mà còn tạo điều kiện cho sâu bệnh phát sinh gây hại. -Đúng kỹ thuật: •Giai đoạn sinh trưởng của cây ngô •Thời tiết, khí hậu •Đặc tính của đất •Lượng và loại phân bón •Giống lai nhu cầu dinh dưỡng cao hơn giống thuần 3.5. Lợi ích của phân bón trên cây ngôPhân bón cung cấp các dưỡng chất cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây ngô, sản xuất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam đã khẳng định, phân bón trong giai đoạn vừa qua đã có nhiều đóng góp tích cực. Số lượng, chất lượng và chủng loại phân bón ngày một tăng cao, góp phần quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực.. Tạo ra sự an toàn dinh dưỡng cho đất và cây trồng: đó là đảm bảo cung cấp đủ liều lượng thiết yếu đúng lúc cây ngô cần, theo tỷ lệ cân đối giữa các chất trong phân bón phù hợp với yêu cầu từng loại ngô trên các vùng đất trồng dưới các điều kiện thời tiết, khí hậu khác nhau, đảm bảo và phát triển hệ sinh thái đất. 4. Các loại phân bón ứng dụng CNSH trên cây ngô.Spoiler: click to toggle 4.1. Phân vô cơ.Spoiler: click to toggle Nguyên liệu:-Rác thải hữu cơ: các loại rác thải hữu cơ có thể phân hủy được   -Than bùn và than hoạt đá: bùn có ở kháp nơi như : cống rãnh, mương…. -Phế thải nông nghiệp, công nghiệp: rác phế thải có nguồn gốc thực vật: lá cây vỏ của các laoij lương thực như vỏ dừa, vỏ trấu, vỏ cafe, phân chuồng, rỉ đường, …., phế thải của các quy trình sản xuất công nghiệp như: quy trình sản xuất bia, thức ăn gia xúc…. 4.1.1. Phân vi sinh vật cố định đạm.Giới thiệu về phân.Có nhiều loài vi sinh vật có khả năng cố định N từ không khí. Đáng chú ý có các loài: tảo lam (Cyanobacterium), vi khuẩn Azotobacter, Bradyrhizobium, Rhyzobium; xạ khuẩn Actinomyces, Klebsiella. Phần lớn các loài vi khuẩn cố định đạm thường sống cộng sinh với các cây họ đậu. Chúng xâm nhập vào rễ cây và sống cộng sinh trong đó, tạo thành các nốt sần ở rễ cây. Chúng sử dụng chất hữu cơ của cây để sinh trưởng đồng thời hút đạm từ không khí để cung cấp cho cây, một phần tích luỹ lại trong cơ thể chúng. Tảo lam cộng sinh với bèo hoa dâu và hút đạm tích luỹ lại làm cho bèo hoa dâu có hàm lượng đạm cao, trở thành cây phân xanh rất quý. Thời gian gần đây, cùng với những tiến bộ của khoa học và công nghệ, các nhà khoa học đã sử dụng công nghệ gen để tạo ra các chủng vi sinh vật cố định đạm có nhiều đặc điểm tốt: khả năng cố định đạm cao, khả năng cộng sinh tốt. Công nghệ sinh học cũng giúp tạo ra những chủng vi sinh vật có đặc tính cạnh tranh cao với các loài vi sinh vật trong đất. Mặt khác, công nghệ sinh học đã cho phép các nhà khoa học tách được gen quy định đặc tính cố định đạm từ vi khuẩn và đem cấy vào nhân tế bào cây trồng, làm cho một số loài cây trồng cũng tạo được khả năng cố định đạm như vi khuẩn. Vòng tuần hoàn Nito. Quy trình sản xuất. Vai trò của phân.Kết quả nghiên cứu cho thấy, chiều cao cây khi thu hoạch biến thiên từ 123,7cm đến 178,4 cm.Các nghiệm thức bón đạm đều gia tăng chiều cao cây có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức không bónđạm. Khi bón lượng phân đạm càng tăng thì chiều cao cây càng gia tăng, điều này cho thấy phân đạm có ảnh hưởng rõ rệt lên sự sinh trưởng và phát triển của cây ngô lai. Bên cạnh đó, những nghiệm thức có thêm chủng vi khuẩn cố định đạm thì cây có chiều hướng cao hơn những nghiệm thức chỉ bón đơn thuần đạm vô cơ ở cùng mức độ đạm vô cơ. Chiều cao đóng bắp biến động từ 61,5 đến 103,8 cm. Có bón đạm giúp gia tăng chiều cao đóng trái có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức không bón. Ở những nghiệm thức bón đạm càng cao thì vị trí đóng bắp cao hơn và có mối quan hệ với chiều cao cây lúc thu hoạch  Khối lượng 100 hạt: Ở các mức bón đạm vô cơ thấp từ 0; 100 đến 200 kg N/ha, có chủng vi khuẩn định đạm đều giúp gia tăng khối lượng 100 hạt so với nghiệm thức không chủng có ý nghĩa thống kê. Số liệu tương ứng ở mức không bón đạm vô cơ là 25,20 gr [T2] so với 21,17 gr[T1], tỷ lệ gia tăng là 19%. Ở mức đạm vô cơ 100 kg N/ha, có chủng vi khuẩn [T4] cho khối lượng 100 hạt là 32,23 gr so với không chủng là 28,03 gr [T3], tỷ lệ gia tăng là 15%. Ở mức đạm vô cơ 200 kg N/ha, có chủng vi khuẩn [T6] cho khối lượng 100 hạt là 33,30 gr so với khối lượng chỉ có 28,93 gr ở nghiệm thức không chủng [ T5], tỷ lệm gia tăng là 15%. Ở các mức bón đạm vô cơ cao hơn từ 300 đến 400 kg N/ha, khi chủng vi khuẩn cố định đạm thì khối lượng 100 hạt cũng có chiều hướng gia tăng nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Bón đạm thúc đẩy quá trình tăng trưởng của cây, làm cho cây ra nhiều nhánh, phân cành, ra lá nhiều; lá cây có kích thước to, màu xanh; lá quang hợp mạnh, do đó làm tăng năng suất cây. Phân đạm cần cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng, đặc biệt là giai đoạn cây sinh trưởng mạnh. Trong số các nhóm cây trồng đạm rất cần cho các loại cây ăn lá như rau cải,bắp…. 4.1.2. Phân vi sinh vật phân giải lân.Giới thiệu về phân.Cây chỉ có thể hút được lân từ đất dưới dạng hoà tan trong dung dịch đất. Vì vậy, cây chỉ có thể hút được lân ở dạng dễ tiêu trong đất. Lân ở dạng khó tan trong đất cây không hút được. Vì vậy, có nhiều loại đất như đất đỏ bazan, đất đen, v.v.. hàm lượng lân trong đất khá cao, nhưng cây không hút được vì lân ở dưới dạng khó hoà tan. Trong đất thường tồn tại một nhóm vi sinh vật có khả năng hoà tan lân. Nhóm vi sinh vật này được các nhà khoa học đặt tên cho là nhóm HTL (hoà tan lân, các nước nói tiếng Anh đặt tên cho nhóm này là PSM – phosphate solubilizing microorganisms). Nhóm hoà tan lân bao gồm: Aspergillus niger, một số loài thuộc các chi vi khuẩn Pseudomonas, Bacillus, Micrococens. Nhóm vi sinh vật này dễ dàng nuôi cấy trên môi trường nhân tạo. Nhiều nơi người ta đã đưa trộn sinh khối hoặc bào tử các loại vi sinh vật hoà tan lân sau khi nuôi cấy và nhân lên trong phòng thí nghiệm, với bột phosphorit hoặc apatit rồi bón cho cây. Sử dụng các chế phẩm vi sinh vật HTL đem lại hiệu quả cao ở những vùng đất cây bị thiếu lân. Một số loài vi sinh vật sống cộng sinh trên rễ cây có khả năng hút lân để cung cấp cho cây. Trong số này, đáng kể là loài VA mycorrhiza. Loài này có thể hoà tan phosphat sắt trong đất để cung cấp lân cho cây. Ngoài ra loài này còn có khả năng huy động các nguyên tố Cu, Zn, Fe… cho cây trồng. Nhiều nơi người ta sử dụng VA mycorrhiza đã làm tăng năng suất cam, chanh, táo, cà phê… Nuôi cấy VA mycorrhiza trên môi trường nhân tạo rất khó. Vì vậy hiện nay các chế phẩm có chưa VA mycorrhiza chỉ có bán rất hạn chế trên thị trường phân bón Mỹ. Vòng tuần hoàn photpho trong tự nhiên. Cơ chế phân giải. Cơ chế phân giải phosphat trong lân vô cơ. Sự phân giải Ca3(PO4)2 có lien quan mật thiêt đến sản sinh acid trong quá trính sống của VSV trong đó acid cacbonic rất quan trọng. Chính H2CO3 làm cho Ca3(PO4)2¬ bị phân giải. Quá trình sản xuất theo quy trình sau. Cơ chế phân giải phospho hữu cơ.Nhiều VSV đất có men diphosphorylaza phân giải phitin theo phản ứng sau. Vai trò của phân. Tăng cường cung cấp thêm lân (P) dễ tiêu, Phát huy hiệu quả của phân lân, Tăng cường sức hoạt động của các loại VSV khác trong đất, Cung cấp các chất điều hòa sinh trưởng, Cung cấp các chất kháng sinh phòng chống sâu bệnh hại. Lân kích thích sự phát triển của rễ cây, làm cho rễ ăn sâu vào đất và lan rộng ra chung quanh, tạo thêm điều kiện cho cây chống chịu được hạn và ít đổ ngã. Lân kích thích quá trình đẻ nhánh, nảy chồi, thúc đẩy cây ra hoa kết quả sớm và nhiều. Lân làm tăng đặc tính chống chịu của cây đối với các yếu tố không thuận lợi: chống rét, chống hạn, chịu độ chua của đất, chống một số loại sâu bệnh hại như sâu đục quả, đục thân…Bón phân còn có tác dụng tang VSVPGL trong đất, dẫn đến tang độ phân giả lân trong đât lên 23-35%. 4.2. Phân hữu cơ .Spoiler: click to toggle 4.2.1. Phân hữu cơ sinh học (compos)Giới thiệu về phân. Phân hữu cơ sinh hoc(compos) là snr phẩn phân bón được tạo ra thong qua quá trình lên men VSV các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc khác nhau ( phế thải nông, lâm nghiệp, phế thải chăn nuôi, phế thải chế biến, …), trong đó các chất hữu cơ phức tap dưới tác động của VSV hoặc các chất sinh học được chuyển hóa thành mùn. Quy trình sản xuất phân.-Cắt các phế thải hữu cơ ngắn khoảng 5-8 cm -Làm ẩm và đưa vào các hố ủ. -Bổ xung 5kg ure, 5kg lân supe, 750 ml khối VSV sau 10 ngày nuôi cấy được hòa tan vào 30 ml nước và trộn đều với khối nguyên liệu. Vai trò của phân.-Giảm sự ô nhiễm cho nguồn đất nước và không khí, các chất hữu cơ biến đổi thành các chất vô cơ. Phân sau khi ủ compos trở thành một chất mùn hữu ích cho nông nghiệp, như tang độ phì nhiêu cho đất giúp cây trồng hấp thu. -Tang độ ẩm cần thiết cho cây trồng, giảm thiểu sự rửa trôi khoáng do các thành phần vô cơ, không hòa tan trong phân ủ như NO. 4.2.2. Phân hữu cơ VSV.Giới thiệu về phân.Phân hữu cơ VSV là sản phẩm được sản suất từ các nguồn hữu cơ khác nhau, nhằm cung cấp chat dinh dưỡng cho cây trồng, cải tạo đất, chứa một hay nhiều chủng VSV sống được tuyển chọn với mật độ đạt tiêu chuẩn chất lượng, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản. Quy trình sản xuất phân hữu cơ VSV. Hiệu quả của phânKhi bón phân cho bắp, giúp chop bắp có khả năng dề kháng cao, cung cấp đạm, lân, kali….nhờ các loại VSV cố định Nito, vi khuẩn nấm, hoặc nấm sợi phaan giả phosphate….Chính vì vậy góp phần làm giảm lượng phân hóa học bón cho bắp, giúp giảm ô nhiễm môi trường. 4.2.3. Phân VSV phân giải xenluloze.Giới thiệu về phân.Phân bón VSV phân giả xenluloze là sản phẩm chứa một hay nhiều chủng VSV đã được tuyển chọn với mật độ đạt theo tiêu chuẩn hiện hành có khả năng phân giả xenluloza để cung cấp chất dinh dưỡng cho đất, cây trồng, tạo điều kiện nâng cao năng xuất và chất lượng nông sản, tang độ màu mỡ cho đất. Cơ chế phân giải xenluloze-Chất hữu cơ là thành phần rất quan trọng trong quá trình hình thành và thay đổi ddooj phì của đất. Sự thay đổi các chất hữu cơ của đất chủ yếu theo 2 hướng sau. -Vô cơ hóa các chất hữu cơ. -Mùn hóa vật chất hữu cơ. Xenluloze được VSV phan hủy thành các thành phần có phân tử lượng nhỏ hơn. Chính những thành phần nhỏ này kết hợp với các thành phần nhỏ khác trong đất tạo ra mùn. Khi mùn được tạo thành, VSV tieps tục phân hủy mìn bang Amon hóa, sự phân hủy này giúp đất tích lũy NH3. Sự tạo thành NH3 trong đất xảy ra chậm chạp và điều này rất có lợi cho cây trồng vì quá trình này giải phóng NH3 từ từ cho cây hấp thụ. Chất mùn + O2 – VSV CO2 + H2O + NH3 Vai trò của phân.Chế biến phân rác, ủ phân chuồng. Tăng cường quá trình phân giải các xác bã thực vật trong đất. Cung cấp các dưỡng chất dễ tiêu cho cây trồng, cải thiện độ màu mỡ của đất. Khi bón phân này cho bắp giúp ngăn ngừa một số loại sâu hại bắp như: đục thân, đục lá….Giúp cải thiện môi trường trồng bắp cũng như môi trường xung quanh. 4.2.4 . Phân hữu cơ sinh học HC5 bột cá và maxi-bột cáGiới thiệu về phân.Theo Hiệp hội phân bón Việt Nam cá khô làm phân chứa 47,61% chất đạm, 5,92% chất béo, 2,78% chất xơ, 39,08% chất khoáng và 3,08% muối khoáng (Tuyển tập phân bón Việt Nam, tập 1, trang 136), cho thấy bột cá làm phân bón có chứa thành phần chất đạm và chất khoáng rất cao, đặc biệt là có chứa nhiều loại axít amin như Vai trò của phân.Cung cấp đầy đủ các dưỡng chất cần thiết như đạm, lân, kali, trung lượng và vi lượng (Ca, Mg, S, Cu, Zn, Mo, Co, Bo, Mn…) đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tối ưu. Bộ rễ cây phát triển nhanh và mạnh, cây xanh tốt, cứng chắc, tăng khả năng đề kháng của cây đối với các loại sâu bệnh và điều kiện bất lợi của ngoại cảnh. Giúp cho các vườn cây bị kiệt sau một chu kỳ khai thác dài mau chóng phục hồi, phục hồi các tổn thương ở rễ cây do nấm bệnh, tuyến trùng, virus và các điều kiện bất lợi của ngoại cảnh gây ra (đặc biệt là cây tiêu – cây trồng có bộ rễ tương đối yếu rất dễ bị các tổn thương do sâu bệnh và các tác động từ bên ngoài). Cải thiện và làm tăng độ phì cho đất, giúp đất tơi xốp, giữ nước và dinh dưỡng tốt cho cây trồng, đồng thời còn có tác dụng hoạt hóa và tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật hữu ích (vi sinh vật cố định đạm, vi sinh vật phân giải lân…) và các nấm đối kháng phát triển. Vì vậy có thể bón để cải tạo và phục hồi các vùng đất nghèo dinh dưỡng, đất chua, mặn, phèn, đất bị rửa trôi mạnh. Kích thích tăng trưởng và tạo chất kích thích tăng trưởng cho cây trồng, kích thích cây phân hoa mầm hoa, tăng khả năng ra hoa, đậu trái của cây, hạn chế cây rụng hoa, trái non và giúp trái lớn nhanh. Tăng năng suất, tăng phẩm chất và tăng giá trị xuất khẩu của nông sản. Đây là loại phân bón hữu cơ sinh học giàu đạm amin, axit humic và các khoáng chất rất cần thiết cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, giúp cây phát triển cân đối, cây trồng khỏe, nâng cao năng suất chất lượng nông sản, giảm phân bón hóa học, hạ giá thành nông sản và tích cực góp phần cải thiện môi trường sản xuất. 4.2.5 .Phân hữu cơ vi sinh BioGro.Giới thiệu về BioGro.Hai loại sản phẩm phân bón vi sinh Biogro (dùng bón qua rễ và bón qua lá). Biogro được tạo thành từ chế phẩm vi sinh chức năng và cơ chất hữu cơ đã được xử lý. Thành phần của phân vi sinh Biogro bón qua rễ gồm có: 1,0 x 106- 107 vi sinh vật cố định đạm; 4,0 x 106-107 vi sinh vật phân giải lân và trên 8,4% chất mang bao gồm các chất hữu cơ đã được xử lý như mùn rác, than bùn… Sản phẩm được đóng gói trong bao PP và PE với khối lượng tinh 25 kg với độ ẩm từ 20 - 25%. Vai trò của phân.Dùng phân vi sinh có thể thay thế được từ 50 - 100% lượng phân đạm hóa học (tùy từng loại cây trồng). Thực tế SX cho thấy 1 tấn phân vi sinh thay thế cho 10 tấn phân chuồng, 1 kg đạm vi sinh thay thế cho 1 kg đạm urê. Bón phân vi sinh làm cho cây khỏe hơn, sinh trưởng nhanh hơn, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt hơn, năng suất cây trồng có thể tăng từ 25 - 30%, chất lượng tốt hơn, mã quả đẹp hơn. Bón phân vi sinh có thể tiết kiệm được nhiều chi phí do giá phân hạ, giảm lượng phân bón, giảm số lần phun và lượng thuốc BVTV… nên hạ được giá thành sản phẩm, tăng thêm mức thu nhập cho nông dân. Do bón vi sinh nên sản phẩm rất an toàn, lượng nitrat giảm đáng kể, đất không bị ô nhiễm, khả năng giữ ẩm tốt hơn, tăng cường khả năng cải tạo đất do các hệ sinh vật có ích hoạt động mạnh làm cho đất tơi xốp hơn, cây dễ hút thu dinh dưỡng hơn.
|