- Posts:
- 58
- Group:
- DHTP5-N2
- Member
- #1,066
- Joined:
- Jan 1, 2012
|
IV.Ứng dụng CNSH trong việc bón phân và trị bệnh cho cây ca cao.
Spoiler: click to toggle 1.Tìm hiểu về cây ca cao Spoiler: click to toggle 1.1Nguồn gốc: Spoiler: click to toggle Cây cacao (Theobroma cacao) thuộc: • Thứ: Theobroma cacao L • Họ: Sterculiaceae Thứ Theobroma gồm 20 loài, trong đó chỉ có loài Theobroma cacao là có giá trị kinh tế. Nguồn gốc cây ca cao ở lưu vực sông Amazon, Nam Mỹ, từ đó cây ca cao phát triển sang các nước Trung va Nam Mỹ, và có hai loai chính là Criollo và Forastero. Criollo có hạt dạng tròn, nội nhũ trắng, có hương vị nhẹ và tương đối dễ nhiễm bệnh. Foratestero có dạng cây cao, khỏe, hạt nhỏ hơn Criollo nhưng hương vị đậm hơn. Hạt Foratestero dạng dẹp, lá mầm bên trong màu tím, chứa nhiều chất béo hơn Criollo. Do vậy, hầu hết các vùng trồng cacao lớn trên thế giới hiện nay đều trồng ở dạng Foratestero. Thổ dân Nam Mỹ dùng cacao làm đồ uống. Hạt cacao được rang lên, nghiền nhỏ, thêm bột ngô, vanille và đôi khi cả ớt. Ngay nay, ở một số nước như Colombia, Philippin, dạng đồ uống đặc sệt như vậy còn tồn tại, mặc dù có thay đổi chút ít như thêm đường, vanille hoặc tinh dầu quế. Ở Nicaragua, hạt cacao có lúc được dùng như một thứ tiền tệ trong trao đổi mua bán. Cacao được sử dụng rộng rãi từ thế kỉ thứ 6 ở các bộ tộc Maya và đến thế kỉ 16 lưu hành rộng rãi ở Trung Mỹ. Từ thế kỉ 16, cacao bắt đầu phát triển rộng ra các nước khác trên thế giới, trước hết là các nước Nam Mỹ và vùng biển Caribe, như Venezuela, Jamaica, Haiti. Cacao vượt biển Thái Bình Dương và được trồng ở Philippin vào đầu thế kỉ 17, sau đó tiếp tục mở rộng qua Ấn Độ và Scrilanca vài chục năm sau. Cho đến thời gian này loại Criollo vẫn chiếm diện tích chủ yếu. Brazil và Ecurador là những nước đều tiên phát triển loại Foratestero và đầu thế kỉ 19 cacao bắt đầu được xuất khẩu với qui mô 2000 – 5000 tấn từ các nước Nam Mỹ. Cuối thế kỉ 19 cacao mới được trồng ở các nước Tây Phi, trước hết ở Ghana và Nigieria. Đến nay, cacao phát triển rất nhanh do có thị trường Châu Âu. Năm 1900 Châu Phi chỉ chiếm 17% tổng sản lượng cacao thế giới nhưng đến năm 1960, tỷ lệ này đã lên đến 73%.  1.2.Đặc điểm thực vật cùa cacao Spoiler: click to toggle Ca cao là loài thân gỗ có thể cao đến 10-20m nếu mọc tự nhiên trong rừng. Trong sản xuất người ta xén bỏ bớt để thuận tiện cho việc thu hoạch độ cao cây trưởng thành 7,5m đường kính 10-15 cm Đặc điểm: Cây ca cao là loại cây thân gỗ, chiều cao trung bình 5 ÷ 7 m. Tuổi thọ của cây thường từ 20 ÷ 30 năm. Sau khi trồng được 3 ÷ 4 năm thì cây bắt đầu ra hoa, hoa có nhiều màu như : đỏ, hồng, tím. Cây cacao ra hoa cả năm, nhưng nhìn chung hoa thường nở rộ vào 2 khoảng thời gian : từ tháng 4 đến tháng 7 và từ tháng 11 đến tháng 1. Hoa mọc trực tiếp từ thân cây và những cành to chứ không mọc ở ngọn như những cây khác. Hoa cacao thuộc loại lưỡng tính. Mỗi cây cacao có thể nở đến khoảng 100.000 hoa , nhưng tỷ lệ đậu trái rất thấp chỉ đạt đến khoảng 0,5% là cao. Hơn nữa, khi quả non đã đậu quả thì lại có hiện tượng khô héo và rụng, có khi tới 90%. Khi chín vỏ trái cacao đổi màu : các trái màu lục hay xanh ôliu khi chín chuyển sang màu vàng tươi; các trái màu ửng đỏ thì khi chín có màu sậm da cam; trái tím lợt thì chuyển sang tím đậm. Quả cacao có kích thước lớn, thường có hình cầu hoặc dài và nhọn hay có dạng trứng tuỳ theo giống. Chiều dài quả từ 7 ÷ 30 cm (trung bình từ 12 ÷ 15 cm), rộng 7 ÷ 9 cm. Trọng lượng cả vỏ và hạt khoảng 200g đến 1 kg (trung bình khoảng 400 ÷ 500g đối với giống Forastero). Từ lúc ra hoa đến lúc quả chín khoảng 5 ÷ 7 tháng. Quả chín không mở và trông giống như quả nạc. Mỗi quả thường chứa từ 30 ÷ 40 hạt. Mỗi cây cacao hàng năm cho từ 0,5 đến 2 kg hạt, thay đổi tuỳ theo giống, điều kiện chăm sóc, mật độ trồng. Trung bình mỗi hécta thu được khoảng 1 tấn hạt nguyên liệu.
1.3. Các giống ca cao phổ biến hiện naySpoiler: click to toggle Hiện nay, người ta chia cacao ra làm 3 nhóm lớn là : Criollo, Forastero và Trinitario Nhóm Criollo Nhóm này có các đặc điểm sau : − Nhị lép có màu hồng nhạt. − Trái có màu đỏ hoặc xanh trước khi chín. − Trái có dạng dài và có đỉnh nhọn rất rõ ở cuối trái, mang 10 rãnh đều nhau đôi khi phân thành 2 nhóm, ta có thể phân biệt được 2 nhóm do 1 trong số 5 rãnh không rõ nét. − Vỏ thường sần sùi, mỏng, dễ cắt, lớp trong mỏng và ít mô gỗ. − Hạt có tiết diện gần tròn, tử diệp màu trắng ít đắng. Nhóm Criollo có nguồn gốc từ Nam – Trung Mỹ, chiếm 5% sản lượng cacao thế giới và là giống cacao làm ra loại chocolate ngon nhất. Tuy nhiên, giống này có năng suất thấp và khả năng kháng bệnh kém nên ít trồng.  Nhóm Forastero Nhóm này có các đặc điểm sau : − Nhị lép có màu tím. − Trái màu xanh hay ôliu, khi chín có màu vàng. − Trái ít có hoặc không có rãnh, bề mặt trơn, đỉnh tròn. − Vỏ dày và khó cắt vì ở trong có nhiều chất gỗ. − Hạt hơi lép, tử diệp có màu tím đậm, lúc tươi có vị chát hay đắng. Nhóm này chiếm phần lớn sản lượng cacao của thế giới (khoảng 80%), thường trồng phổ biến ở Brazil, Venezuela, các nước Tây Phi, Malaysia, Indonesia … và Việt Nam. Ở nước ta nó được trồng ở Vĩnh Long, Tiền Giang, Buôn Ma Thuộc. Giống này cho hạt có chất lượng trung bình, năng suất cao và kháng sâu bệnh tốt. Hạt của nó lên men chậm hơn loại Criollo.  Nhóm Trinitario : Là dạng lai giữa Criollo và Foraster, xuất xứ từ Trinidat. Trước đây, người Tây BanNha trồng loại Criollo, đến năm 1727 đồn điền bị gió lốc phá hủy hoàn toàn và để phục hồi người ta đem loại Forastero nhập từ Amazon sang trồng, từ đó tạo ra những giống lai tạp Trinitario. Đặc điểm của Trinitario rất khó quy định vì nó mang những đặc điển trung gian của hai giống kia. Trinitario chiếm khoảng 10 – 15% sản lượng cacao thế giới. Do có năng suất cao và kháng bệnh tốt nên giống này được trồng khá phổ biến.  2. Cây cacao ở Việt NamSpoiler: click to toggle Cây cacao là một loại cây kinh tế được trồng với quy mô lớn tại nhiều nước trên thế giới. Nó là mặt hàng xuất khẩu mang lại nhiều ngoại tệ. Hiện nay, giá cacao trên thị trường thế giới khoảng 1.500 ÷ 1.600 USD/tấn (tháng 03/2002). Các nước trong khu vực Đông Nam Á như Malaysia, Indonesia, Philipin trước đây chiếm một sản lượng rất thấp trong tổng sản lượng cacao của thế giới thì nay không ngừng tăng diện tích trồng để gia tăng sản lượng. Ở nước ta, cacao đã được thực dân Pháp trồng thử nghiệm ở các tỉnh phía Nam ngay sau khi đô hộ nước ta. Hafwer, Giám đốc Nông nghiệp và Thương mại Đông Dương lúc đó đã nhận xét: “Cây cacao cho kết quả tốt tại đất trồng cau, dừa giàu mùn và được tưới nước ngọt đều đặn. Tất cả vùng đất đỏ Nam bộ, cây cacao đều tỏ ra thích hợp do hàm lượng P, Ca dễ tiêu cao”. Năm 1974, hãng Soca 2 (Pháp) đã cử một đoàn chuyên gia sang nghiên cứu hợp tác với Việt Nam trồng cacao ở Cửu Long và họ đã xác định các vùng đất miền Tây và Đông Nam Bộ rất thích hợp để trồng cacao. Sản lượng dự kiến sau 3 ÷ 4 năm là 2500 kg/ha và cây có thể cho quả đến trên 30 năm. Từ đó, cây cacao đã được quan tâm và gieo trồng ở nhiều nơi. Ở miền Đông Nam Bộ, từ 1976, Đoàn 600 Quân đội nhân dân đã làm nông trường gần rừng Nam Cát Tiên và trồng thử khoảng 50 ha cacao trên đất khai hoang. Nhưng do thiếu kinh nghiệm và kỹ thuật trồng, cây chậm phát triển nên Đoàn 600 đã phải chặt bỏ. Ở Gia Khiêm, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai đã có nhiều gia đình trồng thử cây cacao và thu được kết quả khá tốt. Ở Đắc Lắc, từ năm 1981 trường trung học Nông Nghiệp Tây Nguyên đã trồng thực nghiệm giống Trinitario trên đất bazan có tầng sâu 3 ÷5 m, pH = 4,4 ÷ 4,9; độ cao so với mực nước biển 530 ÷ 540m. Sau 3 năm, đến tháng 5/1984 đã trổ hoa và sang tháng 7 thì bắt đầu đậu quả. Từ đó đến nay cây cacao phát triển tốt và có thể là nguồn cung cấp hạt giống Trinitario để trồng ở vùng Tây Nguyên. Ở miền Trung, Công ty cacao tỉnh Quảng Ngãi đã trồng từ năm 1991 khoảng 200 ha cây cacao loại Trinitario và Forastero trên đất podzolic xám và bazan bạc màu có pH = 5,5 ÷ 6. Đồng bằng sông Cửu Long do nằm trên vĩ độ 8 ÷ 11 thuộc khu nhiệt đới, khí hậu nóng và ẩm nên rất thích hợp cho việc phát triển cây cacao. Nhiệt độ bình quân hằng năm ở đây khoảng 25 ÷ 27 0C, sông rạch chằng chịt, phần lớn vườn đều có xẻ mương, có nước bao quanh, lượng mưa hằng năm từ 1.000 ÷ 2.000 mm, pH trung bình của đất khoảng 6 ÷ 7,5. Hơn nữa, thường xuyên được phù sa của hai con sông : sông Tiền và sông Hậu bồi đắp. Nếu đưa cây cacao vào cải tạo vườn tạp hay trồng xen trong vườn dừa thì rất thích hợp và có khả năng phát triển trên 25.000 ha cacao ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và hằng năm có thể cho khoảng 500.000 tấn trái. Tuy nhiên ở vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay khâu giống rất phức tạp. Chúng ta có cả 3 nhóm : Criollo, Forastero, Trinitario trong đó nhóm Criollo chiếm tỷ lệ thấp nhất, nhóm Trinitario có hai dạng hình với tỷ lệ tương đương nhau, loại thứ nhất có dạng hình Criollo và loại thứ hai có dạng hình Forastero. Cả hai loại thường có màu đỏ tím nhạt khi còn non. Do có sự lai tạo không định hướng rất lớn giữa các giống nên nếu dùng hạt này để nhân giống phát triển thêm diện tích trồng thì do sự phân ly của các đời sau, trái cacao có thể có phẩm chất rất thấp. Để giải quyết khâu giống cho đồng bằng sông Cửu Long chúng ta phải điều tra xác định lại trên nhóm Forastero và Trinitario hiện nay có các dòng nào đạt năng suất cao, ổn định chống chịu tốt với các điều kiện khí hậu và sâu bệnh. Từ đó, tổ chức nhân giống vô tính bằng cách giâm cành để có những cây con tốt giống cha mẹ đã chọn. Nhìn chung về mặt khí hậu và đất đai, đồng bằng sông Cửu Long có nhiều điều kiện khá thuận lợi cho việc phát triển cây cacao. Đến nay thì chúng ta đã có những cây cacao sống trên 20 năm vẫn cho trái và bình quân năng suất của các vườn cacao mỗi cây cho từ 30 trái trở lên.
3.Các sâu bệnh hại ca cao và biện pháp phòng trừ.Spoiler: click to toggle 3.1.Côn trùng và sâu hại. Spoiler: click to toggle 3.1.1.. Mọt đục cành (Xyleborusmorstatti) a. Hình thái : - Mọt trưởng thành là bọ cánh cứng nhỏ, dài khoảng 2 mm, màu nâu đen. Trên lưng và cánh cứng có nhiều lông ngắn thưa thớt và nhiều hàng chấm lõm. - Sâu non màu trắng sữa, không có chân, mình mập, đầu màu nâu nhạt, đẫy sức dài 3mm. b. Triệu chứng gây hại : - Mọt đục vào cành ca cao, lỗ đục tròn, miệng lỗ quay xuống dưới, đẻ trứng trong lổ đục. - Sâu non đục thành đường ống dọc theo cành làm lá vàng héo, cành kéo chết khô. c. Phòng trừ : - Chặt bỏ các cây dại xung quanh vườn ca cao để giảm bớt ký chủ của mọt đục cành. - Cắt bỏ các cành khô và cành có lá héo để diệt sâu non. - Phun thuốc ướt đều cây khi có nhiều mọt trưởng thành phát sinh : + Mospilan3EC : 10-15 ml/bình 8 lít ; + Mospilan 20SP : 2,5 g/bình 16 lít + Oncol20EC ;Sumithion 50EC : 30-40 ml/bình 8 lít + Nurelle D 25/2.5EC : 30 ml/bình 8 lít 3.1.2. Bọ nâu (Adoretus sp.) a.Hình thái : - Bọ trưởng thành là loài cánh cứng, hình bầu dục, màu nâu sẫm, có nhiều lông nhỏ, chân rất phát triển, có tính giả chết, gặp động buông mình rớt xuống đất. - Sâu non màu trắng ngà, thân có nhiều lông nhỏ rải rác, uốn cong hình chữ C, đẫy sức dài 12-13 mm. b. Triệu chứng gây hại : - Bọ trưởng thành ban đêm cắn phá lá cây. Bọ ăn lá tạo thành những lỗ khuyết làm giảm diện tích quang hợp, bị hại nặng lá chỉ còn gân lá. - Sâu non sống trong đất, ăn xác thực vật và rễ cây. c. Phòng trừ : - Dọn sạch cỏ dại trong vườn và quanh bờ. - Dùng vợt bắt bọ trưởng thành vào chập tối. - Phun thuốc (các thuốc như mọt đục cành) vào buổi chiếu ướt đều tán lá. 3.1.3. Sâu hồng ( Zeuzeracoffeae) a. Hình thái : - Bướm tương đối lớn, cánh màu trắng xám, có nhiều chấm nhỏ màu xanh đen óng ánh, thân có nhiều lông trắng. - Sâu non đẫy sức dài 40 mm màu đỏ vàng hoặc đỏ tươi, đầu màu đen. b. Triệu chứng gây hại : - Bướm đẻ trứng ở các kẽ nứt của vỏ cây, thân cành cây. - Sâu non đục thành một đường vòng dưới vỏ cây, sau đó đục lên phía trên ngọn thân và các cành tạo thành đường hầm rồi đùn phân và mạt cưa rơi xuống đất. - Cành bị sâu đục thường héo và dễ gãy, sâu tiếp tục sống trong cành khô và hóa nhộng trongcành. c. Phòng trừ : - Cắt bỏ đem đốt các cành bị sâu để diệt sâu non, nhộng. - Phun thuốc vào nơi sâu thích đục lỗ (đầu cành non, chồi non) hoặc bơm thuốc vào lỗ đục : + Fastac5EC ;Cyper 5EC ; Sumi Alpha 5EC : 10 ml/bình 8 lít + Oncol20EC ;Nurelle D 25/2.5EC ; Hopsan 75ND ; Ofunack 40EC ; Sumithion 50EC : 25-30 ml/bình 8 lít. 3.1.4. Bọ xít muỗi (Helopeltis sp.) a. Hình thái : - Bọ trưởng thành giống con muỗi lớn, màu xanh, con cái dài 4-5 mm, con đực nhỏ hơn. - Bọ tuổi nhỏ màu vàng nhạt. b. Triệu chứng gây hại : - Hoạt động vào sáng sớm và chiều mát, ngày âm u hoạt động cảngày. - Đẻ trứng rải rác hoặc từng cụm 2-4 quả trên búp hoặc trên gân lá, trứng đẻ sâu trong biểu bì để lộ ra 2 sợi lông dài. - Bọ trưởng thành và bọ non chích hút chồi non, cành non và trái, các vết chích bị thâm đen. Bị hại nặng búp và lá non xoăn lại, khô héo, trái non kém phát triển bị héo khô, trái lớn phát triển dị dạng, ít hạt và dễ bị nấm hại xâm nhập. - Bọ xít muỗi thường gây hại nặng trong mùa mưa, vườn rợp bóng, ẩm thấp bị hại nặng hơn. c. Phòng trừ : - Vệ sinh vườn sạch sẽ, tỉa bỏ các cành nhánh vô hiệu. - Nuôi kiến đen (loài Dolichoderusthoradicus) trong vườn ca cao có khả năng làm giảm sự tác hại của bọ xít muỗi. - Phun thuốc vào sáng sớm khi cây ra lá non, chồi non mới nhú và đậu trái non : + Fastac5EC ;Cyper 5EC ; Mospilan 3EC : 5-10 ml/bình 8 lít + Cori 23EC ;Hopsan 75ND : 20-25 ml/bình 8 lít + Nurelle D 25/2.5EC ;Ofunack 40EC : 20 ml/bình 8 lít + Oncol20EC ;Sumithion 50EC : 30 ml/bình 8 lít + Mospilan20SP : 2,5 g/bình 16 lít + SumiApha5EC : 5 ml/bình 8 lít 3.1.5. Bọ cánh tơ (Thrips sp.) a.Hình thái : - Còn gọi là bọ trĩ. Bọ trưởng thành nhỏ, mình thon dài khoảng 1 mm, màu xám đen, cánh dài và hẹp, có nhiều lông tơ. - Bọ non giống trưởng thành nhưng chưa có cánh, màu xanh vàng. b. Triệu chứng gây hại : - Bọ trưởng thành và bọ non sống tập trung mặt dưới lá hút nhựa, lá vàng có những vệt biến màu và rụng. - Sinh trưởng của cây bị ảnh hưởng. c. Phòng trừ : - Chăm sóc cây phát triển tốt, không để vườn bị khô hạn. - Phun thuốc ướt đều lá : + Mospilan3EC : 10 ml/bình 8 lít ; Mospilan 20SP : 2,5 g/bình 16 lít + Fastac5EC ;Cyper 5EC : 5-10 ml/bình 8 lít + Hopsan75ND ;Hoppecin 50EC ; Oncol 20EC ; Elsan 50EC ; Sumithion 50EC : 20-30 ml/bình 8 lít 3.1.6. Rệp sáp phấn (Planococcuscitri) a. Hình thái : - Rệp cái hình bầu dục, không cánh, dài 2,5-5mm, thân có phủ lớp sáp trắng, quanh thân có các tua sáp. Rệp đực dài khoảng 1mm, màu xám nhạt, có một đôi cánh. - Rệp non mới nở màu hồng, hình bầu dục, chưa có sáp, di chuyển tìm nơi sống thích hợp, sau 2-3 ngày thì cố định nơi sống. b. Triệu chứng gây hại : - Xuất hiện nhiều trong mùa nắng là loại sâu hại nguy hiểm nhất đối với cây tiêu. - Rệp thường sống tập trung gây hại ở cuống, lá, thân, quả và cổ rễ. Rệp chích hút nhựa cây làm cây chậm phát triển, quả nhỏ.Chất bài tiết của rệp là môi trường cho nấm bồ hóng đen phát triển, bám đen cả cành lá và vỏ trái, làm giảm quang hợp và giảm giá trị sản phẩm. c. Phòng trừ : - Cắt tỉa những cành sâu bệnh, cành sát mặt đất, cành vô hiệu để giảm nơi sinh sống của rệp. - Dọn sạch cỏ rác, lá cây mục ở xung quanh gốc để phá vỡ nơi trú ngụ của kiến. - Mùa nắng dùng vòi bơm nước phun vào chổ có nhiều rệp đeo bám có tác dụng rửa trôi bớt rệp, đồng thời tạo ẩm độ trên cây làm giảm mật số rệp. - Thường xuyên kiểm tra 10 ngày/lần để phát hiện sự xuất hiện của rệp sáp. Nếu thấy có rệp dù ở mật số thấp cũng phải diệt trừ ngay vì rệp sáp sinh sản rất nhanh. - Trừ rệp sáp trên lá và quả : cần phun thuốc kỹ để thuốc bám và thấm qua lớp sáp, phải phun thuốc 2 lần cách nhau 7-10 ngày để diệt tiếp lứa rệp non mới nở từ trứng được che ở dưới bụng rệp mẹ. Có thể dùng nước xà bông rửa chén pha 15-20 ml/bình 8 lít phun ướt đều nơi rệp đeo bám, ngày hôm sau phun thuốc. + Oncol 20EC, Nurelle D 25/2.5EC : 25-30ml/ bình 8 lít + Cori 23EC: 20 ml/bình 8 lít + Mospilan 3EC: 15 ml/bình 8 lít nước ;Mospilan 20SP : 2,5 g/bình 16 lít + Elsan 50EC: 30 ml/bình 8 lít + Applaud 10WP : 20-25 g/bình 8 lít nước ; Applaud 25SC : 8-12 ml/bình 8 lít + Dầu khoáng Citrole 96.3EC: 40 ml/bình 8 lít Trừ rệp sáp hại rễ : + Oncol 20EC: pha 40 ml/10 lít nước, tưới vào vùng rễ 3-5 lít dung dịch thuốc cho một gốc tùy theo cây lớn nhỏ. Nếu đất khô, tưới nước một ngày trước khi tưới thuốc để đất có đủ ẩm độ giúp cho thuốc dễ khuếch tán xuống tới vùng rễ bị rệp sáp gây hại. + Lorsban 15G : xới quanh gốc sâu 10 cm, rắc thuốc 20-30 g/gốc, sau đó phủ đất và tưới đẫm nước cho cây. 3.1.7. Rệp muỗi đen a. Hình thái : - Có 2 loại rệp không cánh và có cánh. Rệp trưởng thành không cánh cơ thể trần trụi, hình quả lê dài 1,5-2 mm, màu đen hoặc hơi đỏ. Trong một ổ rệp có vài con rệp có cánh, phần bụng màu đen, cánh mỏng và trong suốt, thường phát sinh khi mật độ rệp quá cao nó có chức năng bay đi tìm nơi sinh sống mới để tạo ra ổ rệp mới khi ổ rệp cũ gặp điều kiện bất thuận như nguồn thức ăn cạn kiệt. Rệp non màu hơi nâu. - Trong điều kiện nóng ẩm vùng nhiệt đới, rệp sinh sản theo kiểu đơn tính, đẻ ra con, một cái đẻ trung bình 30-50 con và chỉ sau 7-10 ngày rệp non lại trở thành rệp cái và đẻ con, cho nên ổ rệp hình thành rất nhanh chóng. b. Triệu chứng gây hại : - Rệp muội sống tập trung ở các chồi non, lá non, trái non hút nhựa làm và lá non xoăn lại, cây chậm phát triển, quả bị khô héo. Trong quá trình sinh sống, rệp tiết ra chất thải là môi trường phù hợp cho nấm bồ hóng phát triển và dẫn dụ kiến. c. Phòng trừ : - Vệ sinh vườn sạch sẽ, cắt bỏ các cành vô hiệu và chồi vượt. - Khi rệp phát sinh nhiều phun thuốc trừ rệp, chú ý phun ướt đều nơi rệp đeo bám. + Oncol 20EC, Hopsan75ND : 25-30 ml/bình 8 lít + Fastac 5EC, Cyper 25EC, Mospilan3EC : 10 ml/bình 8 lít + Lannate 40SP : 12-24 g/bình 8 lít + Sumi Alpha 5EC : 5 ml/bình 8 lít + Sumithion50EC : 15-25 ml/bình 8 lít 3.1.8. Sâu khoang (Prodenialitura) a. Hình thái : - Bướm có kích thước trung bình, thân dài 17-20 mm, màu nâu vàng, cuối bụng con cái có túm lông. - Sâu non màu xám tro hoặc nâu đen, vạch lưng màu vàng, trên đốt bụng thứ nhất có một khoang đen lớn. Sâu đẫy sức dài 40-50 mm. b. Triệu chứng gây hại : - Sâu ban ngày ẩn nấp dưới đất, trong đám lá, cỏ dại, phá hại mạnh vào ban đêm. - Sâu non gặm chất xanh của lá chừa lại màng và gân lá, sâu lớn ăn khuyết lá, làm cây xơ xác ảnh hưởng đến sinh trưởng. c. Phòng trừ : - Thường xuyên kiểm tra vườn để phát hiện kịp thời. - Phun thuốc khi sâu phát sinh nhiều, tuổi sâu còn nhỏ : + Oncol20EC ; Cori 23 EC ; Nurelle D 25/2.5EC, Elsan 50EC : 25-30 ml/bình 8 lít + Lannate40SP : 12-24 g/bình 8 lít + Ammate 150SC: 8 ml/bình 8 lít + Atabron5EC : 10-15 ml/bình 8 lít + Fastac5EC ;Cyper 5EC ; Sumi Alpha 5EC : 10 ml/bình 8 lít 3.1.9. Mối (Odontotermes sp.) a. Hình thái : - Mối chúa màu nâu, dài 40-50 mm, mối thợ và mối lính dài 3-4 mm. - Mối lính có hàm dưới phát triển, đầu có hạch độc tiết ra chất dịch có tính acid để đục gỗ. b. Triệu chứng gây hại : - Là côn trùng phá hại phổ biến vườn cây ca cao trong thời kỳ kiến thiết cơ bản, nhất là ở những vùng mới khai hoang, gần rừng. - Mối sống quần thể trong tổ ngầm dưới đất, một bộ phận của mối thợ và mối lính đi kiếm ăn, khi đi chúng tạo thành đường ngầm nối từ tổ đến nơi lấy thức ăn. - Mối gặm rễ cây và biểu bì thân cây làm cây sinh trưởng kém, lá vàng úa, cây nhỏ có thể bị chết. c. Phòng trừ : - Trước khi trồng ca cao cần làm đất kỹ, dọn sạch tàn dư gốc rễ của cây trồng trước, tìm phát hiện phá các tổ mối. - Thường xuyên dọn sạch không để lá cây, cành cây mục ở trong vườn để làm giảm nguồn thức ăn của mối. - Trước khi trồng ca cao xử lý hố trồng : rải 20-30 g/hố thuốc Lorsban 15G. - Sau khi trồng xong phun trên mặt đất xung quanh gốc cây và toàn thân cây : + Nurelle D 25/2.5 EC : 30 ml/bình 8 lít + Mospilan3EC : 15 ml/bình 8 lít
3.2.Bệnh hại ca caoSpoiler: click to toggle 3.2.1. Bệnh thối thân, cháy lá, thối trái a. Tác nhân : - Do nấm Phytophthorapalmivora. - Nấm P.palmivora có nguồn gốc thủy sinh nên chúng ưa thích và rất cần sự ẩm ướt để sinh sản, phát triển và gây hại. Bệnh phát triển, lây lan mạnh trong mùa mưa, nhiệt độ không khí trên dưới 30ºC ở những vườn ẩm thấp, đọng nước. b. Triệu chứng gây hại : - Đây là bệnh quan trọng nhất trên cây ca cao. Bệnh xâm nhập và gây hại ở tất cả các bộ phận của cây từ thân, lá, trái. - Trên thân cách mặt đất khoảng 1 m, xuất hiện các vết bệnh sậm màu hơi ướt, sau chuyển sang nâu đỏ, vỏ bị bệnh nứt ra và chảy nhựa vàng. Lâu ngày, vết bệnh lan khắp vòng thân và ăn sâu vào phần gỗ, lá héo và rụng. Ở những cây nhiều tuổi, bệnh có thể hại cả trên cành.Cây bị bệnh lá héo, rụng, cành bị khô, cây có thể chết. - Trên lá, vết bệnh màu xanh tái hơi ướt xuất hiện đầu tiên trên mép và chóp lá, sau lan rộng vào phía trong phiến lá, chuyển màu nâu, lá bị cháy khô từng mảng.Trong điều kiện ẩm ướt trên vết bệnh có lớp tơ nấm màu trắng. - Trên vỏ trái xuất hiện những chấm màu nâu lan rất nhanh, sau chuyển qua đen và từ từ bao kín mặt trái. Trái non đen khô cứng và vẫn dính trên cây. Trái gần thu hoạch bị thối một phần hoặc cả quả, quả bị rụng, hạt lép, giảm sản lượng. c. Phòng trừ : - Trồng giống kháng bệnh. - Hái bỏ, chôn các trái bệnh để tránh bào tử phát tán do gió, nước mưa, côn trùng. - Tỉa cành hợp lý tạo thông thoáng, giảm độ ẩm dưới tán lá. - Tạo bóng râm thích hợp để đủ ánh sáng trong vườn ca cao. - Thường xuyên kiểm tra nhất là vào mùa mưa để phòng trừ bằng thuốc : + Acrobat MZ 90/600 WP, Polyram 80 DF : 20-25 g/bình 8 lít. Phun khi cây bắt đầu trổ hoa và sau đó phun 2-3 tuần/lần cho đến khi vỏ trái chín. + Acrobat MZ 90/600 : 20-25 g/8 lít nước. Bôi thuốc vào vết bệnh trên thân đã được nạo vỏ, cạo sạch, cách nhau 14 ngày/lần. 3.2.2. Bệnh thối khô quả a. Tác nhân : - Do nấm Diplodiatheobromae. - Bệnh phát sinh quanh năm, phát triển mạnh trong điều kiện nóng và ẩm. b. Triệu chứng gây hại : - Trên vỏ trái vết bệnh lúc đầu là những đốm màu nâu hơi ướt, sau vết bệnh lan rộng rất nhanh trên bề mặt và ăn sâu vào bên trong trái, làm trái bị đen và khô cứng lại, có thể rụng hoặc dính lại trên cành một thời gian. - Nấm tấn công từ khi trái còn nhỏ đến trước khi chín, làm giảm sản lượng. c. Phòng trừ : - Tiêu hủy các trái bị bệnh. - Tỉa cành cho cây thông thoáng. - Phát hiện có quả bị bệnh phun thuốc : + Bemyl 50 WP : 20-25 g/bình 8 lít 3.2.3. Bệnh vệt sọc đen (khô ngược cành) a. Tác nhân : - Còn gọi là bệnh VSD (Vascular Streak Dieback) do nấm Oncobasidiumtheobromae. - Bệnh phát triển và phát tán chủ yếu khi mưa nhiều, ẩm độ không khí cao. Bào tử phát tán từ 3-9 giờ sáng. b. Triệu chứng gây hại : - Một hoặc nhiều lá bệnh nằm sau đợt lá cuối cùng kể từ ngọn đếm ngược vào có màu vàng với những đốm xanh.Thân cây sần sùi với những mụt nhỏ. Nhiều chồi nách phát triển nhiều nhưng không hoàn chỉnh. - Lột vỏ hoặc chẻ dọc đoạn cành nhiễm bệnh thấy có những sọc đen. - Cắt ngang bề mặt sẹo lá bị bệnh có 1-3 chấm đen. - Khi bệnh nặng cành khô và chết ngược dần từ ngọn vào. c. Phòng trừ : - Trồng giống kháng. - Tỉa cành thông thoáng để giảm ẩm độ không khí. - Cắt bỏ cành bệnh khoảng 30 cm về phía gốc cách nơi có triệu chứng bệnh (sọc đen trên mô mộc). - Nhổ bỏ cây con bị bệnh và thay cây khỏe mạnh khác. - Phun thuốc Bayfidan 1 tuần/lần : 2 ml/bình 8 lít 3.2.4. Bệnh khô vỏ thân a. Tác nhân : - Do nấm Colletotrichumgloeosporioides. - Nấm tồn tại trên các bộ phận cây bị bệnh. Bệnh xảy ra cả trong mùa khô và mùa mưa, phát triển nhiều trên những cây ca cao thiếu bóng che để ánh nắng chiếu trực tiếp vào thân cành trong một thời gian dài. b. Triệu chứng gây hại : - Nấm hại trên thân, cành và lá. - Trên thân và cành, nấm xâm nhập vào lớp tế bào dưới biểu bì tạo thành những vết sậm màu, sau đó vùng nhiễm bệnh xuất hiện bào tử màu vàng cam, vỏ thân bị khô từng mảng, nếu bị nặng cây sinh trưởng kém, lá vàng và rụng, một số cành bị khô. - Trên lá, vết bệnh là những đốm màu nâu, tròn, nhiều đốm liên kết nhau làm cháy lá. c. Phòng trừ : - Bón phân và tưới nước đầy đủ cho cây sinh trưởng tốt. - Tạo vườn ca cao có đủ bóng che. - Phun hoặc bôi thuốc vào vết bệnh : + Bavistin 50FL, Carbenda50SC : 10-15 ml/bình 8 lít + Polyram 80DF, Ridozeb 72WP, Bemyl50WP : 25-30 g/bình 8 lít + Dithane xanh M-45 80WP, Manozeb80WP : 30-40 g/bình 8 lít 3.2.5. Bệnh nấm hồng a. Tác nhân : - Do nấm Corticiumsalmonicolor. - Bênh thường xuất hiện vào mùa mưa, ở những vườn ca cao quá rợp bóng và ẩm thấp do tán lá dày và mật độ trồng cao. b. Triệu chứng gây hại : - Nấm phá hại ở những cành đã hóa nâu. - Các vết bệnh lúc đầu có lớp mốc trắng, sau chuyển màu hồng. Nấm mọc sâu vào phần gỗ cành, lá phần trên của cành nhiễm bệnh bị úa vàng và khô, nhưng vẫn lưu trên cành một thời gian. Vỏ cành khô nâu và bong ra từng mảng, bị nặng cành chết khô. c. Phòng trừ : - Tỉa cành thường xuyên, tăng độ thông thoáng cho vườn. - Cắt bỏ cành bệnh dưới vùng có nấm mọc 30 cm, đốt bỏ cành bệnh. - Phun khi bệnh chớm xuất hiện hoặc quét lên thân cành bệnh có đường kính lớn : + Bavistin50FL ;Carbenda 50SC : 10-15 ml/bình 8 lít + Vali3DD : 30 ml/bình 8 lít ; Vali 5DD : 20 ml/bình 8 lít 3.2.6. Bệnh lở cổ rễ a. Tác nhân : - Do nấm Rhizoctoniasolani. - Hạch nấm sống hàng năm trong đất, gặp điều kiện thuận lợi mọc ra sợi nấm để xâm nhập gây bệnh. - Bênh phát triển mạnh trong mùa mưa, ẩm độ trong vườn cao. b. Triệu chứng gây hại : - Nấm xâm nhập vào chổ cổ rễ giáp mặt đất, thấy vỏ có vết nâu. Sau đó, vết nâu lan rộng bao quanh cổ rễ, vỏ gốc bị thối bong ra để trơ phần gỗ. Nấm dần dầnăn sâu vào trong làm cổ rễ bị thắt nhỏ lại. - Lá cây bị vàng héo, toàn cây chết khô. c. Phòng trừ : - Không để vườn đọng nước trong mùa mưa, cắm cọc giữ cây con không để gió lay gốc mạnh. - Đào bỏ cây bị bệnh nặng, thu gom hết rễ và đốt tiêu hủy. Trước khi trồng cây khác, bón 0,5 kg vôi bột cho một hố. - Phun thuốc kỹ vào cổ rễ và đất khi bệnh chớm xuất hiện : + Bavistin 50FL, Carbenda50SC : 10-15 ml/bình 8 lít + Bemyl50WP : 20-25 g/bình 8 lít + Vali3DD : 30 ml/bình 8 lít ; Vali 5DD : 20 ml/bình 8 lít + Top 70WP : 7-10 g/bình 8 lít. 3.2.7. Bệnh thối rễ a. Tác nhân : - Do nấm Rigidoporuslignosus, Ganodermapseudoferum, Phellinusnoxius, Rosselliniabunodes. - Bệnh thường phát sinh trong điều kiện đất thường xuyên bị ẩm hoặc đọng nước trong mùa mưa. b. Triệu chứng gây hại : - Nấm làm bộ rễ cây có thể bị trắng, bị hóa nâu, bị đen hoặc nứt cổ rễ. - Cây sinh trưởng chậm, lá vàng và rụng, bị hại nặng cây dần dần chết, nhổ lên dễ dàng. c. Phòng trừ : - Bón nhiều phân hữu cơ, giữ cho gốc được tơi xốp. - Không để gốc cây bị đọng nước. - Vào đầu mùa mưa và cuối mùa mưa phun hoặc tưới vào cổ rễ và đất dung dịch thuốc 1 lít/cây : + Sumi Eight 12.5 WP : 5-6 g/ 8 lít nước
4.Ứng dụng Công Nghệ Sinh Học cho việc bón phân cho cây ca caoSpoiler: click to toggle Phân bón vi sinh được bổ sung vào các giai đoạn bón lót trồng mới và bón xả sau thu hoạch. Kết hợp với các loại phân dưới đây để cho hiệu quả hấp thu chất dinh dưỡng cho cây tốt nhất. Qui trình bón phân cho cây ca cao: Cây ca cao cần được cung cấp đầy đủ các nguyên tố đa, trung và vi lượng. Thiếu hoặc thừa một trong những yếu tố này đều ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển không bình thường của cây. * Bón phân cho ca cao trong vườn ươm: - Bón lót 50 kg phân hữu cơ sinh học HVP 401 H hoặc HVP 401 B cho mỗi 1000 m2 liếp ương hoặc 2 m3 đất làm bầu trước khi gieo hạt. - Bón thúc bằng cách hòa tan 20-30 gam phân NPK-20-20-15 trong 10 lít nước, tưới định kỳ 2-3 tuần/lần. Phun phân bón lá HVP 1601.WP 30.10.10 định kỳ 7-10 ngày/lần. * Bón phân cho ca cao kiến thiết cơ bản: - Bón lót cho mỗi hố 7 - 10 kg phân chuồng hoai + 0,5 kg vôi bột và 0,5 kg phân lân (super lân, lân nung chảy) + 2kg phân hữu cơ sinh học HVP 401 H hoặc HVP 401 B + 200g HVP Oganic/cây trước trồng 10-15 ngày - Bón thúc: Ca cao kiến thiết cơ bản cần nhiều đạm, lân, một ít kali và trung vi lượng để cây phát triển bộ rễ, thân lá. Phân bón cho cây ca cao trong giai đoạn kiến thiết cơ bản là các loại phân NPK-20-20-15 hoặc 16-16-8, lượng bón tuỳ theo tuổi cây như sau: Năm thứ nhất: 0,2-0,3kg/cây. Năm thứ hai: 0,5-0,6kg/cây Năm thứ ba: 0,6-0,8kg/cây. Lượng phân này chia làm 4 đợt vào đầu, giữa, cuối mùa mưa và 1 lần trong mùa khô. Cần phun các chế phẩm phân bón lá để giúp cây ca cao phục hồi nhanh ngay sau khi trồng và phát triển tôt để rút ngắn thời gian kiến thiết cơ bản. Cơ thể sử dụng các sản phẩm phân bón lá HVP theo quy trình như sau: Sau khi trồng 7 ngày tưới gốc 1 lần HVP 6-6-4 K-HUMAT kích thích ra rễ mạnh đễ hấp thu nhiều dinh dưỡng. Kết hợp sử dụng HVP 1601 WP (21-21-21) Phun lên lá định kỳ 7 ngày/1 lần. * Bón phân cho cây ca cao kinh doanh: - Phân hữu cơ: Bón cho mỗi cây 7 - 10 kg phân chuồng hoai + 0,5 kg phân lân (super lân, lân nung chảy) + 2 kg phân hữu cơ sinh học HVP 401 B + 100g HVP Oganic/cây lượng phân trên chia làm hai lần bón đầu và cuối mùa mưa. - Vôi bột: bón 300-400 kg/ha/năm, rải tung đều khắp mặt đất, tiếp xúc với đất càng nhiều càng tốt, không cần lấp đất. - Phân hóa học: Lượng phân bón cho cây ca cao trong thời kỳ kinh doanh như sau: phân trộn NPK gồm phân Urê, Super lân, KCl với tỉ lệ 1 – 3 – 2 (dạng phân thương mại) với lượng bón từ 1,5 – 2kg/cây/năm + lượng phân trên chia ra bón làm 3 lần vào đầu, giữa và cuối mùa mưa. Do đặc điểm bộ rễ cây ca cao ăn nông (80% rễ tập trung ở tầng 0-30 cm) nên cần bón phân trong lớp đất mặt. Bón phân bằng cách theo đường chiếu của vành tán rồi vùi lấp để giảm bớt thất thoát do bay hơi, rửa trôi. - Phân bón lá: do đặc điểm ra hoa kết quả xen kẽ liên tục quanh năm của cây ca cao nên cây cần được bổ sung dinh dưỡng kịp thời để hạn chế hiện tượng héo trái non do sinh lý. Sau khi cây ra hoa rộ và đậu trái non xong sử dụng HVP – 1001.S ( 6.20.20) phun lên lá 2 lần cách nhau 14 ngày/lân. Xen kẽ giữa hai lần phun HVP – 1001.S ( 6.20.20) ta sữ dụng HVP Giàu Canxi + Giàu Bo + Giàu Lân + Giàu Manhê để chống rụng trái non. Sau đó sử dụng HVP 6.30.30 – SIÊU TO HẠT phun định kỳ 10 ngày 1 lần đến khi thu hoạch trái
5.Một số thử nghiệm về phân bón trên cây ca cao Spoiler: click to toggle Trước nguy cơ dịch bệnh hoành hành, đất đai bị thoái hóa do lạm dụng quá nhiều phân và thuốc bảo vệ thực vật hóa hợp, các nhà khoa học, cơ quan chức năng, doanh nghiệp đã tập trung nghiên cứu, sản xuất các loại phân bón hữu cơ sinh học theo hướng an toàn và thân thiện với môi trường. Một trong những điển hình tiêu biểu của dòng sản phẩm này là phân bón sinh học WEHG (Worldwise Enterprises HeavenGreens) của Công ty cổ phần Thế giới thông minh. Sản phẩm không chỉ giúp tăng năng suất cây trồng mà còn giúp đất tơi xốp. WEHG là chế phẩm điều tiết sự tăng trưởng của cây trồng, ngăn ngừa sâu bệnh, bổ sung dinh dưỡng cho cây, đặc biệt là giảm chi phí, đem lại hiệu quả kinh tế cao WEHG giúp ngăn ngừa sâu rầy, bọ hút, cào cào, rệp sáp, nhện đỏ và các loại côn trùng gây hại khác, điều tiết tăng trưởng, bổ sung dinh dưỡng cho cây, tăng khả năng nảy mầm của hạt giống... đảm bảo vệ sinh môi trường, giảm sâu bệnh, tăng độ màu mỡ của đất và tăng năng suất, chất lượng cây trồng. Phép thử phân sinh học WEHG trên cây ca cao thu được kết quả Kết quả thu được rất đáng ngạc nhiên: Phân sinh học WEHG mang lại nhiều tác dụng như cải tạo đất trồng, cung cấp dinh dưỡng, cân bằng dinh dưỡng với những vùng đất trước đây đã sử dụng nhiều phân hoá học. Một điều tuyệt vời nữa mà WEHG đem lại là, giúp cây trồng giảm hẳn sâu bệnh nên hạn chế được việc phun thuốc BVTV. Cây có các chỉ tiêu sinh trưởng tốt, trung bình cứ 25 - 30 ngày ra một đợt lá mới. Lá dày và xanh, bóng hơn trước, thân, cành phát triển mạnh, cứng cáp. Bộ rễ cũng phát triển, số rễ con tăng trưởng nhanh và nhiều. khi sử dụng phân sinh học WEHG, năng suất quả tươi đạt 90-120kg/7 ngày; trong khi các vườn không sử dụng WEHG chỉ đạt 50-60kg/7 ngày. WEHG cũng giúp cây chống chịu khá tốt với các loại sâu bệnh. Qua theo dõi thấy, những vườn ca cao được chăm sóc bởi phân sinh học WEHG chỉ có 2% sâu ăn lá so với 25% khi sử dụng phân hóa học, tương tự, tỷ lệ rệp sáp tấn công cũng chỉ 3%, trong khi ở những vườn dùng phân hóa học tỷ lệ này là 20%... Khi sử dụng chế phẩm sinh học WEHG, trong đất phát sinh ra loại giun đất làm cho đất trở nên tơi xốp, có nhiều lỗ trống để giữ nước, làm cho bộ rễ cây sinh trưởng nhanh – mọc dài và sâu thêm, bộ rễ sẽ giúp cây tăng trưởng mạnh, rất cần thiết cho những vùng đất khô cằn. Phân của loại giun đất này, tự nó biến thành một loại phân bón rất tốt. Thực tế cho thấy, trên mặt đất sử dụng chế phẩm sinh học WEHG phát sinh ra một loại côn trùng cánh cam gọi là Ladybug - đây là một loại côn trùng nhỏ bằng đầu đũa, màu đỏ cam có những chấm đen trên cánh được mệnh danh là thiên thần bảo vệ mùa màng, chúng ăn những loại sâu rầy nhỏ li ti, thường bám vào những mầm non hay nụ hoa làm thui chột hoa quả hoặc làm cho cây không lớn. Khi sử dụng chế phẩm sinh học WEHG thì hàm lượng dinh dưỡng trong đất cung cấp cho cây phát triển sẽ tăng gấp đôi cho năm thứ 2, gấp 3 cho năm kế tiếp. Điều đó dẫn đến tăng năng suất cây trồng ổn định, thu hoạch sẽ tăng ngay trong vụ đầu và cao trong các vụ kế tiếp từ 20-60%. Chế phẩm WEHG còn có tác dụng trên thân và lá cây làm ngăn ngừa sâu rầy, bọ hút, cào cào, rệp sáp, rầy nâu, nhện đỏ và các loại côn trùng có hại khác phá hoại mùa màng. Sản phẩm giúp điều tiết tăng trưởng và bổ sung dinh dưỡng làm cho cây trái to, trổ bông nhiều, đậu quả cao, hạt nhiều, to chắc, chất lượng. Cây trái và hoa màu khi thu hoạch phẩm chất tốt và đặc biệt không bị nhiễm độc. WEHG còn làm thân và lá cây tăng trưởng nhanh, mau lành các khuyết tật ở vỏ cây.
|