|
Unregistered
|
Spoiler: click to toggle NỘI DUNG Chương I: Giới thiệu về phân bón cây ăn lá và bệnh cây ăn lá 1.1. Phân bón là gì và có bao nhiêu loại Cách nào tốt nhất để cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng Chúng ta thường được biết cây lấy nước và chất dinh dưỡng từ đất qua rễ, nhưng ít ai chú ý rằng rễ chỉ chiếm rất nhỏ phần trong đất (chỉ 1-2%), nhưng lại biết rất rõ là đạm, lân, kali bị mất đi rất nhiều vào môi trường, cây trồng chỉ sử dụng được dưới 50% lượng phân bón sử dụng. Để tăng năng suất, sử dụng nhiều phân bón là giải pháp hàng đầu, dẫn đến phân bón ngày càng phải dùng nhiều và hiệu quả sử dụng cũng ngày càng ít đi. Những năm gần đây, chúng ta biết thêm rằng cây còn có thể nhận các chất dinh dưỡng qua lá. Từ những năm 1950, các nhà khoa học Mỹ đã chứng minh được rằng cây trồng có thể tiếp nhận nhiều chất dinh dưỡng qua lá, chủ yếu qua khí khổng của lá. Hiệu quả sử dụng của các chất dinh dưỡng phun qua lá hơn từ 10 – 20 lần so với bón qua đất. Sau này, các nhà khoa học Ý còn thấy rằng nhiều chất dinh dưỡng hữu cơ khác ví dụ như các axít amin cũng có thể đi vào cây qua lá và hiệu quả của nó rất bất ngờ. Kinh nghiệm nhiều năm sử dụng cho thấy sử dụng kết hợp phân bón (chất dinh dưỡng) qua đất và qua lá là cho kết quả tốt nhất. Các nguyên tố dinh dưỡng thiết yếu đều quan trọng như nhau cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Sự thiếu hụt hay dư thừa bất kỳ nguyên tố nào xuất hiện trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây đều gây ra ảnh hưởng bất lợi. Một số triệu chứng của cây do thiếu chất Stt Triệu chứng Thiếu chất 1 Lá úa vàng bắt đầu từ đỉnh N 2 Mép lá bị héo chết K 3 Các gân lá úa vàng khi lá còn xanh Mg 4 Trên lá ngũ cốc xuất hiện các đốm màu hơi nâu, hơi xám, hoặc hơi trắng Mn 5 Trên lá hoặc thân xuất hiện màu hơi đỏ trên nền xanh P 6 Lá non có những đốm xanh vàng với gân lá màu hơi vàng S 7 Lá non có những đốm xanh vàng với gân lá màu xanh Fe 8 Lá non đậu đỗ, khoai tây có đốm màu đen hơi nâu Mn 9 Lá non nhất có đỉnh màu trắng Cu 10 Lá non nhất có màu hơi nâu hoặc chết B
Tuỳ theo vai trò và nhu cầu của cây trồng mà người ta phân chia các nguyên tố thiết yếu thành từng nhóm + Nhóm đa lượng: Đây là nhóm các chất dinh dưỡng thiết yếu mà cây trồng cần nhiều bao gồm: đạm (N), lân (P), kali (K). + Nhóm trung lượng: Đây là các chất dinh dưỡng khoáng thiết yếu mà cây trồng cần ở mức trung bình bao gồm: lưu hùynh (S), canxi (Ca), magiê(Mg). + Nhóm vi lượng: Đây là các chất dinh dưỡng khoáng thiết yếu mà cây trồng cần với số lượng ít, bao gồm các nguyên tố: kẽm (Zn), sắt (Fe), đồng (Cu), mangan (Mn), bo (B), molypđen (Mo), Clo (Cl). Gần đây nhiều công trình nghiên cứu cho thấy còn có một số chất như Coban (Co), Selen (Se), Niken (Ni), Vanadi (V), Iốt (I) mà cây trồng cần số lượng rất ít nên cũng có thể xếp cho nó nguyên tố siêu vi lượng. Các chất dinh dưỡng thiết yếu với cây trồng dù đó là các chất đa lượng, trung lượng, vi lượng hay siêu vi lượng chúng đều phải được cung cấp đầy đủ và cân đối mới giúp cho cây trồng sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất và chấtlượng cao. Bất kỳ sự thiếu hụt hay dư thừa cũng như sự mất cân đối nào đều làm giảm năng suất và ảnh hưởng đến chất lượng nông sản.
1.1.1. Định nghĩa phân bón Phân bón là những bổ sung cho đất được dùng để thúc đẩy cây cối phát triển; các loại chất dinh dưỡng có trong phân bón là nitơ, phốt pho, và kali (các 'chất dinh dưỡng') và các chất dinh dưỡng khác ('vi chất dinh dưỡng') được thêm vào với những số lượng nhỏ. Phân bón thường được dùng rải trực tiếp trên đất, và cũng được phun trên lá ('dinh dưỡng qua lá'). Trong cách hiểu thông thường bón phân là cung cấp chất dinh dưỡng cho cây. Vì vậy, đối tượng của việc bón phân là cây trồng. Tuy vậy, thực tế cho thấy, một lượng khá lớn chất dinh dưỡng của cây, nhất là các nguyên tố vi lượng, cây được tập đoàn vi sinh vật đất cung cấp thông qua việc phân huỷ các chất hữu cơ hoặc cố định từ không khí. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học cho thấy bón phân để kích thích và tăng cường hoạt động của tập đoàn vi sinh vật đất cho phép cung cấp cho cây một lượng chất dinh dưỡng dồi dào về số lượng và tương đối cân đối về các chất. Trong trường hợp này thay vì bón phân nhằm vào đối tượng là cây trồng, có thể bón phân nhằm vào đối tượng là tập đoàn vi sinh vật đất. Trong một số trường hợp cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt tạo nên nguồn thức ăn dồi dào cho sâu bệnh tích luỹ và gây hại nặng. Càng bón thêm phân, cây lại sinh trưởng thêm, sâu bệnh lại phát sinh nhiều hơn và gây hại nặng hơn. Ở những trường hợp này, bón phân cần nhằm đạt mục tiêu là ngăn ngừa sự tích luỹ và gây hại của sâu bệnh. Bón phân trong một số trường hợp có tác dụng làm tăng khả năng chống chịu của cây trồng đối với các điều kiện không thuận lợi trong môi trường và với sâu bệnh gây hại. Đặc biệt các loại phân kali phát huy tác dụng này rất rõ. Như vậy, bón phân không phải lúc nào cũng là để cung cấp thêm chất dinh dưỡng, thúc đẩy sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Có những trường hợp phải tác động theo chiều hướng ngược lại: cần kìm hãm bớt tốc độ tăng trưởng và phát triển của cây trồng, làm tăng tính chống chịu của chúng lên. Chúng ta đã biết trong các hệ sinh thái, tồn tại và hoạt động 3 nhóm các mối liên hệ: thông tin, năng lượng và vật chất. Trong các mối liên hệ này, liên hệ vật chất có liên quan đến việc vận động, chuyển hoá một khối lượng vật chất lớn. Các mối liên hệ thông tin và năng lượng trong nhiều trường hợp chỉ cần những tác động nhẹ với những lượng vật chất không lớn có thể tạo ra những phản ứng và hiệu quả lớn. Bón phân là đưa vào hệ sinh thái nông nghiệp những yếu tố mới và có tác động lên các mối liên hệ. Cho đến nay, trong việc bón phân người ta chỉ mới chú ý đến các mối liên hệ vật chất, đến trao đổi chất. Trong thực tế, phân bón có thể có những tác động sâu sắc trong các mối liên hệ thông tin và năng lượng. Phát hiện được tác dụng của phân bón lên các mối liên hệ thông tin và năng lượng, có thể với lượng phân bón không nhiều, tạo ra những hiệu quả to lớn và tích cực trong việc tăng năng suất cây trồng, bảo vệ môi trường sinh thái. Như vậy, đối tượng của phân bón không chỉ có cây trồng, tập đoàn vi sinh vật đất, mà còn có cả toàn bộ các thành tố cấu thành nên hệ sinh thái nông nghiệp. Chọn đúng đối tượng để tác động, có thể mở ra những tiềm năng to lớn trong việc nâng cao hiệu quả của phân bón. 1.1.1. Phân loại phân bón Về mặt hóa học: phân bón chia ra làm nhiều loại: - Phân vô cơ: gồm các hợp chất hóa học vô cơ, các loại phaanvoo cơ đa lượng (N, P, K ), phân vô cơ trung lượng (Ca, Mg, S), phân vi lượng (Fe, Mn, Cu, Zn). - Phân hữu cơ: gồm các loại phân gia sức, gia cầm, than bùn, phân xanh, .. trong phân cóp chứa các acid humic và acid fluvic. Việc sử dụng phân hữu cơ là một phần quan trọng trong chu kỳ biến đổi các chất dinh dưỡng trong thiên nhiên. - Phân chelate: là hợp chất giữa chất hữu cơ và kim loại (EDTAFe2) - Phân vi sinh: là loại phân có chứa các nhóm vi sinh vật khác nhau được đưa vào phân bằng nhiều phương pháp nhằm nâng cao khả năng hữu dụng các chất dinh dưỡng cho cây trồng từ các nguồn dinh dưỡng mà cây trồng không thể hấp thụ được. Về mặt nông học: phân bón được chia thành 2 nhóm: nhóm phan có tác dụng trực tiếp cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng và nhóm phân có tác dụng gián tiếp thong qua việc cải thiện các tính chất của đất. tuy nhiên sự phân loại này chỉ có tính tương đối vì phân bón có tác dụng trực tiếp cũng như gián tiếp ảnh hưởng đến tính chất đất như hầu hết các loại phân vô cơ, phân chelate. Ngược lại phân bón có tác dụng gián tiếp luôn cung cấp trực tiếp một số chất dinh dưỡng cho cây trồng như vôi, thạch cao, bột lưu huỳnh, phân vi sinh.. Về thành phần phân bón: phân bón được chia thành 2 loại là phân đơn và phân phức hợp - Phân đơn: trong phân chỉ chứa một nguyên tố dinh dưỡng chính như urea (46% N), suppe lân (16-18%P2O5), vi lượng boron,… - Phân phức hợp: trong phân có chứa nhiều chất dinh dưỡng như: NPK, DAP, KNO3,… 1.2. Tìm hiểu về bệnh cây ăn lá 1.2.1. Định nghĩa bệnh cây ăn lá (bệnh cây) Bệnh cây là trạng thái không bình thường có quá trình bệnh lý biến động liên tục xảy ra ở trong cây do các yếu tố ngoại cảnh không phù hợp hoặc ký sinh vật gây ra, dẫn đến sự phá hủy các chức năng sinh lý, cấu tạo, làm giảm sút năng suất và phẩm chất của cây trong một thời gian hoặc không gian nhất định nào đó. Tùy theo từng loại bệnh và mức độ bị bệnh mà cây trồng có những biến đổi bên ngoài thể hiện bằng các triệu chứng và bên trong thể hiện bằng sự trao đổi chất, trước hết là các chức năng sinh lý. 1.2.2. Những bệnh hại chủ yếu ở cây ăn lá a) Đốm lá (Phyllosticta brassicae) Đây là một loại triệu chứng chung, có đặc điểm từng đám cục bộ trên lá bị chết tạo ra những vết bệnh, có kích thước nhỏ bé nằm rải rác riêng biệt trên lá của cây bị bệnh có hình dạng, màu sắc khác nhau. b) Thối nhũn (Erwinia carotovora) Thường gây hại khi cây cuốn bắp, hại từ đầu bắp lan vào trong, từ dưới gốc lên. Đối với cải bông hại từ khi ra hoa. Ở cây con khi xuất hiện 2 lá sò, 1 lá thật. Vết bệnh đầu tiên là giọt dầu nhỏ => biến thành màu nâu nhạt lan rộng nhanh chóng => mô bệnh thối nhũn có mùi hôi. Lá bên ngoài bị héo vào ban ngày, ban đêm phục hồi (bệnh nhẹ). Nếu bệnh nặng lá héo hoàn toàn không phục hồi => bắp bị gảy. Ở chỗ thối có dịch nhày màu trắng xám, lá bệnh khô hoàn toàn, bệnh không gây hại hoàn toàn trên lá mà từng chỗ. Bệnh do vi khuẩn có dịch nhày, vết thâm có giọt dầu (Erwinia carotovora) Quy luật biến động: Vi khuẩn có dạng hình gậy, có từ 2-8 roi, trên môi trường nhân tạo khuẩn lạc màu trắng xám. Không tạo thành bào tử, không có vỏ nhờn, loại vi khuẩn háo khí nhuộm gram (-), phát triển tốt T0 = 4 - 38, thích hợp nhất = 27-300C; T0 >50, pH = 5 -9,2 vi khuẩn chết. Trong điều kiện khô hạn, ánh sáng chiếu trực tiếp vi khuẩn chết. Vi khuẩn có tính kí sinh yếu, xâm nhập qua vết thương, tồn tại trong tàn dư cây bệnh trong đất, dụng cụ chăm sóc khi làm đồng, trên cơ thể côn trùng, đặc điểm là truyền qua hạt được. Vi khuẩn có thể tồn tại qua nhiều ký chủ khác nhau. Vi khuẩn tồn tại được 15 ngày nếu ta không tách nó ra khỏi kí chủ Mưa nhiều ẩm độ cao -> bệnh nặng. Ẩm độ cao vết thương ẩm nước, cây thiếu oxy, khó hàn gắn vết thương. Côn trùng chẳng những là môi giới mà còn là tác nhân truyền bệnh. Vi khuẩn tồn tại ở miệng, tuyến nước bọt của côn trùng (bọ nhảy, sâu xanh). Biện pháp phòng trị: - Luân canh với cây lúa nước. - Trồng với mật độ vừa phải, không quá dày. - Không nên bón nhiều đạm. - Tăng cường bón K tăng sức đề kháng cho cây. Tiả lá già dưới chân cho thông thoáng. - Luống trồng cao có rảnh thoát nước. c) Đốm vòng (Alternaria brassicae) Ban đầu, vết bệnh chỉ là những đốm tròn nhỏ, mầu nâu nhạt đến nâu đậm. Nếu gặp thời tiết mưa nhiều, tạo ẩm ướt, trời mát mẻ (nhiệt độ không khí khoảng 22-25 độ C) thì bệnh sẽ phát triển mạnh, vết bệnh hình thành những vòng tròn đồng tâm nhìn giống như chiếc nhẫn, phần giữa vết bệnh bị khô chết. Nếu bị hại nặng nhiều vết bệnh liên kết hòa lẫn với nhau tạo thành một hình dạng bất kỳ, lá bệnh sẽ héo rũ xuống như bị dội nước sôi, trên bề mặt vết bệnh có lớp mốc mầu đen, lá già dễ bị gẫy hoặc thối. Nấm gây bệnh xâm nhập vào trong cây qua các vết thương cơ giới do mưa gió hoặc do con người vô ý tạo ra trong quá trình chăm sóc...hoặc do vết cắn phá của côn trùng. Thường xuất hiện ở cải bắp, súp lơ, cải thảo, .. Hại trên cây con, ở giai đoạn bắp đã cuốn và 1 số cây trồng khác.
Đặc điểm và hình thái: Hại trên lá và cây con. Ở trên thân, vết bệnh có màu đen lan rộng => cây suy yếu và chết. Ở trên lá, vết bệnh có hình vòng tròn lớn, có nhiều hình đồng tâm, màu nâu nhạt hoặc màu sẩm, đường kính >1 cm, vết bệnh thường lớn nhiều vết liên kết với nhau tạo thành hình bất kỳ và có lớp nấm đen. Quy luật biến động: Trên mô bệnh có lớp mốc đen đó là lá cành bào tử phân sinh. Cành bào tử phân sinh ngắn có màu nâu nhạt. Bào tử phân sinh có màu nâu, có nhiều ngăn ngang dọc, kích thước 60 –140 x 16 -18m.
Nấm bán kí sinh xâm nhập vào cây qua vết thương xay xát, lan truyền bằng bào tử phân sinh, phát triển trong đkiện ẩm ướt, mưa nhiều, T0 = 250C, thích hợp nhất cho nấm phát triển.
Mật độ trồng dày, muộn, giống chín sớm bệnh phát sinh, phát triển mạnh. Nấm gây hại ở quả giống, ăn sâu vào trong hạt, làm cho hạt lép, tỉ lệ nẫy mầm thấp. Nấm tàn dư trong cây bệnh, hạt giống, ở bắp cải chưa có giống kháng. Biện pháp phòng trị: - Dùng giống sạch bệnh, hạt giống được phơi sấy ở nhiệt độ 300C trong 24 giờ, xử lý khô bằng hoá chất Granozan, Falizan 4g/kg hạt. - Tồn trữ hạt ở T0 thấp, lạnh và ở nơi khô có H% < 65%. - Xử lý hạt bằng nước nóng trước khi gieo ở T0 = 48 - 50 thời gian 20-25 phút. - Vệ sinh đồng ruộng, thu dọn tàn dư, tỉa bỏ lá già. Luân canh với cây lúa nước c) Bệnh sưng rễ (Plasmodiophora brassicae.) Chủ yếu ở xứ lạnh (châu Âu), xuất hiện ở những vùng nhiệt độ thấp, ẩm độ 30-40% vùng chuyên canh rau. Đặc điểm và hình thái: Đa số hại ở trên rễ, phần gốc nằm trong đất và kéo dài thời kỳ sinh trưởng của cây.
Làm cho cây sinh trưởng chậm, còi cọc lá thấp, lá héo dần. Vào ban đêm thì lá héo hồi phục. Cây bị bệnh nặng lá héo hoàn toàn, lá vàng xanh, cây chết dần. Toàn bộ rễ chính và rễ phụ phình to nổi cục sần sùi, kích thước không đều, phình từng đoạn hoặc chiều dài toàn rễ. Gây hại trên 100 loại, chủ yếu họ thập tự. Tập quán sinh hoạt: Loại nấm kí sinh chuyên tính cơ quan sinh trưởng, có dạng amib đơn bào, bào tử có hình cầu vỏ dày, không màu, kích thước 3,3-3,9 m. Tiến hành gây hại trong tế bào cây và hình thành bào tử ở giai đoạn cuối. Tế bào u sưng thúi mục, giải phóng bào tử ra ngoài đất. Bào tử tồn tại nhiều năm ở trạng thái tỉnh và là nguồn bệnh duy nhất từ năm này sang năm khác. Bào tử tỉnh nẫy mầm ở T0 = 100C ( động bào nang nẫy mầm ở A0 45%) Bào tử xâm nhập vào cây qua vết thương, lông hút chóp rễ, tuỳ thuộc vào mật độ bào tử trong đất.
Ở đất trũng ngập nước cây sinh trưởng kém, bị hại rất nặng, nấm phát triển ở T0 19 - 200C.
Biện pháp phòng trị: - Dùng giống sạch bệnh - Thu dọn tàn dư cây bệnh trên ruộng. - Dùng biện pháp lý hoá học xử lý đất (dùng formol 3% hoặc vôi) 10 ngày trước khi gieo hạt (tùy vào kỹ thuật thâm canh, vôi hoà 8-15% tưới vào gốc). Khi lên líp ta bón 50-100g vào hốc cây. Bón phân chuồng hoai mục, luống trồng cao thoát nước, thường xuyên làm cỏ.
d) Bệnh thối hạch (Sclerotinia sclerotium) Bệnh xuất hiện từ giai đoạn cây con-> thu hoạch. Khi cây có bắp, bắp bị thối hỏng, có màu nâu, mùi hôi. Đặc điểm và hình thái: Hại trên lá, thân, gốc bắp cải. Ở giai đoạn cây con phần gốc thân sát mặt đất bị thối, (lá già sát mặt đất bị nặng nhất) vết bệnh có màu vàng nâu sau lan rộng ra-> mô thúi nhũn, có mùi hôi (đk ẩm khô có mùi hôi, đk khô hanh cũng vậy). Bệnh làm cho cuống và phiến lá trắng, úng nước từ ngoài mép lá lan vào trong, làm cho các lá khác biến vàng, bắp thối, bên ngoài mô thối có lớp nấm trắng và những hạch nâu đen (ban đầu có màu trắng) kích thước của hạt to nhỏ khác nhau không đều.
Quy luật biến động Chủ yếu phụ thuộc vào nhiệt độ và ẩm độ. Ẩm độ cao nhiệt độ thấp mưa nhiều => hạch nẩy mầm nhiều => sinh nhiều quả thể điã. Ẩm độ cao, nhiệt độ lạnh => sinh nhiều bào tử túi (H% =18 -24%, T0=2-30C), hạch vẫn nẩy mầm, T0 >330 C hạch ngưng phát triển và không nẩy mầm. T0 = 15 -250 C thích hợp nhất cho sợi nấm sinh trưởng (sợi nấm là cơ quan sinh trưởng). T0 480c sợi nấm chết trong vòng 3 phút, sợi nấm chịu hạn kém. Khi ẩm độ đồng ruộng > 85% sợi nấm sinh trưởng và phát triển tốt Ở pH = 5 - 8, T0 = 19-240C quá trình thích hợp để sợi nấm xâm nhập vào cây. Bệnh phát sinh mạnh vào tháng 11-3. Nguồn bệnh là hạch nấm ở trong đất, tồn tại nhiều năm. Nếu hạch bị vùi sâu 6-7 cm, sức nẩy mầm giảm tồn tại 1 năm, bào tử túi lan truyền theo gió. Nẩy mầm và xâm nhập vào lá già ở dưới trước, xuyên qua lớp biểu bì cây hình thành sợi nấm. Sợi nấm tiết ra men Pectinaza phân huỷ làm tan rữa các tế bào của cây, phát triển thành tản nấm dày ở trong mô và trên bề mặt của kí chủ. Bệnh phát sinh gây hại có tính chất cục bộ. Biện pháp phòng trị: Biện pháp canh tác: vệ sinh đồng ruộng cày sâu, lật úp đất vùi hạch xuống sâu > 20 cm, khống chế hạt nẩy mầm. - Luân canh với cây lúa nước. - Trồng với mật độ vừa phải, không quá dày. - Không nên bón nhiều đạm. - Tăng cường bón K tăng sức đề kháng cho cây. Tiả lá già dưới chân cho thông thoáng. - Luống trồng cao có rảnh thoát nước. e) Bệnh thán thư (Colectotrichum zibethinum) vết bệnh thường lan từ rìa lá hay chót lá vào, có màu nâu đỏ sáng, bên trong có những quầng màu nâu đậm chạy dọc song song với nhau cùng với những đốm nâu loang lỗ.
Phòng trị - Tỉa bỏ và tiêu hủy các lá bị bệnh nặng. - Bón phân, tưới nước đầy đủ. Phun thuốc trừ bệnh khi chớm xuất hiện. Có thể dùng Topsin M50WP, Benomyl 50WP pha liều lượng 10g/bình 8 lít, Copper B liều lượng 20 - 25 g/bình 8 lít hoặc Manzate, Bavistin, Appencarb, Antracol phun theo khuyến cáo.
f) Bệnh chết rạp cây con (Pythium ophanidermatum) Làm cây chết nhanh từ lúc 2 lá mầm đến lúc nhổ ra ngoài, chết cả cây. Triệu chứng: Đầu tiên trên thân sát xuất hiện những nốt nhỏ sau đó vết bệnh sẽ lan dài theo chiều dài của thân và chu vi thân. Làm cho thân cây bị teo lại có màu vàng và thân cây bị gẫy gục trong khi lá vẫn còn xanh. Nếu vết bệnh hại một phần nhỏ chu vi của thân với điều kiện trời nóng, ẩm độ thấp thì cây con có thể phục hồi được. Nhưng khi trồng ra ngoài đồng có hiện tượng nám đen và tóp lại trên thân. Khi trời lạnh, H% cao thì phần trên mặt đất sẽ mọc 1 lớp sợi nấm trắng xốp như bông gòn và thường thấy triệu chứng khi cây chết. Những sợi nấm trắng xốp đó là cơ quan sinh sản. Đối với cây con bắp cải nhìn từ rễ lên 2 cm nếu có vết đen bị tóp lại thì lúc đó cây con đã nhiễm bệnh.
Quy luật biến động Nấm sống 3 thời kỳ: không có ký chủ trên đồng, sống bằng noãn bào tử, noãn bào tử còn sống lại qua các cây bệnh mục nát, nếu trên đồng không có tàn dư cây bệnh thì sống ẩn vào đất. Xâm nhập vào cây ký chủ noãn bào tử nẫy mầm sinh ra động bào nang, động bào nang sinh ra động bào tử. Nếu nhiệt độ cao, ẩm độ thấp, noãn bào tử nẫy mầm trực tiếp sinh ra động bào tử. Điều kiện phát sinh T 0 = 39 - 410C, giới hạn thấp nhiệt độ 5-100C, nhiệt độ tối đa 410 C. Nấm phân bố trong đất sâu 15 - 20 cm, gặp điều kiện khô hạn lượng nấm giảm. Ẩm độ cao, nhiệt độ thích hợp lượng nấm tăng lên rất nhanh. Cây kí chủ gieo dày và tĩa bỏ cây không kịp thời, giàn che kín, thời tiết thay đổi bất thường cây con bị bệnh nặng thời kỳ phát triển bệnh là lúc cây con có 2 lá sò cho đến khi đem ra đồng ruộng.. Biện pháp phòng trị: - Xử lý đất vườn ươm bằng nước nóng - Dùng phân hữu cơ không có mầm bệnh. - Vườn ươm cách mặt đất 1,5-2 cm, có giàn che cho mùa mưa, mùa khô huy động nuớc tưới hoặc có thể ủ rơm giữa 2 hàng. Gieo thưa và phải thường xuyên tĩa cây tưới ẩm vưa đủ, giàn che phủ thông thoáng. Khi H% caophải rắc tro vào cây con. - Khi cây xuất hiện bệnh phải nhổ bỏ cây bệnh đem đốt và rắc vôi vào cây nhổ bỏ.
|