- Posts:
- 6
- Group:
- DHTP5-N2
- Member
- #1,038
- Joined:
- Dec 31, 2011
|
I.CÔNG NGHỆ SINH HỌC.
Spoiler: click to toggle 1.Thế nào là Công nghệ sinh học? Spoiler: click to toggle Sự bùng nổ của CNSH. Danh từ CNSH xuất hiện vào nửa cuối của thập kỉ 50-70 của thế kỉ XX, hiện nay được dùng khá phổ biến. Cho đến nay, chúng ta không biết ai là người đưa ra danh từ này và xuất xứ từ đâu? Công nghệ sinh học có thể hiểu một cách đơn giản là công nghệ sử dụng các cơ thể sống để sản xuất các sản phẩm hữu ích phục vụ con người. Cũng có nhiều người đưa ra nhiều định nghĩa, song chưa có một định nghĩa nào bao trùm hết . nghĩa của nó. Liên đoàn châu Âu về CNSH (European Federation of Biotechnology) định nghĩa: CNSH là sự ứng dụng thực tiễn của các cơ thể sinh học hay thành phần tế bào của chúng để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho sản xuất và đời sống, để điều khiển môi trường sống. Có người lại định nghĩa: CNSH là kĩ thuật cao sử dụng cơ thể sống hay những chất tách từ cơ thể ấy để tạo ra hay sữa đổi một sinh vật, nhất là để nâng cao các đặc tính có giá trị kinh tế của các loài động thực vật hay tạo ra những vi sinh vật có khả năng tác động đến môi trường. Vừa qua có người lại cho rằng: CNSH được coi là ngành khoa học công nghệ của việc chuyển nạp gene (DNA) vào tế bào hay cơ thể chủ nhằm khai thác một cách công nghiệp các sản phẩm của gene đó phục vụ đời sống, phát triển kinh tế. Theo những định nghĩa trên có thể hiểu CNSH theo hai nghĩa: Nghĩa rộng: bao gồm nhiều dạng sử dụng các sinh vật vào các mục đích sản xuất như làm rượu, làm men bánh m., fromage (phomat), làm tương, chao,.. Nghĩa hẹp: CNSH kĩ thuật cao là CNSH phân tử được sử dụng những kĩ thuật hiện đại tái tổ hợp DNA, biến nạp gene qua con đường vector plasmid, cố định enzyme, gắn enzyme lên một cơ chất nào đó, giữ yên để sử dụng nhiều lần…. Tùy thuộc vào việc hiểu định nghĩa rộng hay hẹp mà người ta phân ra hai loại: CNSH mới (new biotechnology) và CNSH cổ điển (classical biotechnology). 2.Phân loại Spoiler: click to toggle Từ các định nghĩa trên, có thể phân biệt được hai nhóm công nghệ sinh học là: Công nghệ sinh học truyền thống (Traditional Biotechnology).Bao gồm: Thực phẩm lên men truyền thống (Food of Traditional Fermentations) Công nghệ lên men vi sinh vật (Microbial Fermentation Technology) Sản xuất phân bón và thuốc trừ sâu vi sinh vật (Production of Microbial Fertilizer and Pesticide) Sản xuất sinh khối giàu protein (Protein-rich Biomass Production) Nhân giống vô tính bằng nuôi cấy mô và tế bào thực vật (Plant Micropropagation) Thụ tinh nhân tạo (In vitro Fertilization) Công nghệ sinh học hiện đại (Modern Biotechnology).Bao gồm: Nghiên cứu genome (Genomics) Nghiên cứu proteome (Proteomics) Thực vật và động vật chuyển gen (Transgenic Animal and Plant) Động vật nhân bản (Animal Cloning) Chip gen (DNA chip) Liệu pháp tế bào và gen (Gen and Cell Therapy) Công nghệ sinh học nano (Nanobiotechnology) Tin sinh học (Bioinformatics) Hoạt chất sinh học (Bioactive Compounds) Protein biệt dược (Therapeutic Protein) Sự phân loại công nghệ sinh học cũng có thể dựa vào các tác nhân sinh học tham gia vào quá trình công nghệ, có thể chia thành các nhóm sau: Công nghệ sinh học thực vật (Plant Biotechnology) Công nghệ sinh học động vật (Animal Biotechnology) Công nghệ sinh học vi sinh vật (Microbial Biotechnology) Công nghệ sinh học enzyme hay công nghệ enzyme (Enzyme Biotechnology). Mặt khác, tùy vào đối tượng phục vụ của công nghệ sinh học, có thể phân ra các lĩnh vực công nghệ sinh học khác nhau như: Công nghệ sinh học nông nghiệp (Biotechnology in Agriculture) Công nghệ sinh học chế biến thực phẩm (Biotecnology in Food Processing) Công nghệ sinh học y dược (Biotechnology in Medicine-Pharmaceutics) Công nghệ sinh học môi trường (Environmental Biotechnology) Công nghệ sinh học vật liệu (Material Biotechnology) Công nghệ sinh học hóa học (Biotechnology in Chemical Production) Công nghệ sinh học năng lượng (Biotechnology in Energy Production)... 3. Lịch sử hình thành và phát triển của công nghệ sinh học (CNSH) Lịch sử hình thành và phát triển công nghệ sinh học trải qua các giai đoạn sau: 3.1. Giai đoạn thứ nhất Spoiler: click to toggle Đã hình thành từ rất lâu trong việc sử dụng các phương pháp lên men vi sinh vật để chế biến và bảo quản thực phẩm, ví dụ: sản xuất pho mát, dấm ăn, làm bánh mì, nước chấm, sản xuất rượu bia… Trong đó, nghề nấu bia có vai trò rất đáng kể. Ngay từ cuối thế kỷ 19, Pasteur đã chỉ ra rằng vi sinh vật đóng vai trò quyết định trong quá trình lên men. Kết quả nghiên cứu của Pasteur là cơ sở cho sự phát triển của ngành công nghiệp lên men sản xuất dung môi hữu cơ như aceton, ethanol, butanol, isopropanol… vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. 3.2. Giai đoạn thứ hai Spoiler: click to toggle Nổi bật nhất của quá trình phát triển công nghệ sinh học trong giai đoạn này là sự hình thành nền công nghiệp sản xuất thuốc kháng sinh penicillin, khởi đầu gắn liền với tên tuổi của Fleming, Florey và Chain (1940). Trong thời kỳ này đã xuất hiện một số cải tiến về mặt kỹ thuật và thiết bị lên men vô trùng cho phép tăng đáng kể hiệu suất lên men. Các thí nghiệm xử lý chất thải bằng bùn hoạt tính và công nghệ lên men yếm khí tạo biogas chứa chủ yếu khí methane, CO2 và tạo nguồn phân bón hữu cơ có giá trị cũng đã được tiến hành và hoàn thiện. 3.3. Giai đoạn thứ ba Spoiler: click to toggle Bắt đầu từ những năm 50 của thế kỷ 20, song song với việc hoàn thiện các quy trình công nghệ sinh học truyền thống đã có từ trước, một số hướng nghiên cứu và phát triển công nghệ sinh học đã hình thành và phát triển mạnh mẽ nhờ một loạt những phát minh quan trọng trong ngành sinh học nói chung và sinh học phân tử nói riêng. Đó là việc lần đầu tiên xác định được cấu trúc của protein (insulin), xây dựng mô hình cấu trúc xoắn kép của phân tử DNA (1953). Tiếp theo là việc tổng hợp thành công protein (1963-1965) và đặc biệt là việc tổng hợp thành công gen và buộc nó thể hiện trong tế bào vi sinh vật (1980). Chính những phát minh này đã tạo tiền đề cho sự phát triển nhanh chóng của các nghiên cứu cơ bản và ứng dụng thực tế sau đó trong lĩnh vực công nghệ sinh học hiện đại. 3.4. Giai đoạn tứ tư Spoiler: click to toggle Kể từ 1973, khi những thí nghiệm khởi đầu dẫn đến sự ra đời của kỹ thuật DNA tái tổ hợp được thực hiện và sự xuất hiện insulin-sản phẩm đầu tiên của nó vào năm 1982, và thí nghiệm chuyển gen vào cây trồng năm 1982 thành công thì đến nay công nghệ sinh học hiện đại đã có những bước tiến khổng lồ trong các lĩnh vực nông nghiệp (cải thiện giống cây trồng...), y dược (liệu pháp gen, liệu pháp protein, chẩn đoán bệnh...), công nghiệp thực phẩm (cải thiện các chủng vi sinh vật...)... Công nghệ sinh học phát triển cho đến ngày nay chủ yếu dựa trên ba công nghệ chính là: Công nghệ vi sinh. Công nghệ tế bào (nuôi cấy mô và tế bào...). Công nghệ sinh học hiện đại, tức công nghệ gen. Cũng có tác giả gắn quá trình phát triển công nghệ sinh học với ba cuộc cách mạng sinh học. Cách mạng sinh học lần thứ nhất (đầu thế kỷ 20): sử dụng quá trình lên men để sản xuất các sản phẩm như acetone, glycerine, citric acid, riboflavin... Cách mạng sinh học lần thứ hai (sau thế chiến thứ 2): sản xuất kháng sinh, các sản phẩm lên men công nghiệp như glutamic acid, các polysaccharide, trong đó có thành tựu về đột biến, tạo các chủng vi sinh vật cho năng suất và hiệu quả cao, phát triển các quá trình lên men liên tục và phát hiện phương pháp mới về bất động enzyme để sử dụng nhiều lần... Cách mạng sinh học lần thứ ba (bắt đầu từ giữa thập niên 1970): với các phát hiện quan trọng về enzyme hạn chế, enzyme gắn, sử dụng plasmid làm vector tạo dòng, đặt nền móng cho một nền công nghệ sinh học hoàn toàn mới đó là công nghệ DNA tái tổ hợp. Hai giai đoạn đầu, công nghệ vi sinh và công nghệ tế bào, sử dụng hoạt động sinh học của các tế bào tách biệt, nhưng chưa biến đổi được cấu trúc di truyền của chúng, nên được xem là hai giai đoạn của công nghệ sinh học truyền thống. Phải đến cuộc cách mạng sinh học lần thứ ba như đã nêu trên, thì mới ra đời nền công nghệ sinh học hiện đại, giai đoạn phát triển cao nhất của công nghệ sinh học, mở ra kỷ nguyên mới của sinh học. II.TỔNG QUAN VỀ CÂY KIỂNG (CÂY CẢNH).
Spoiler: click to toggle 1.Khái niệm và phân loại về cây kiểng (cây cảnh). Spoiler: click to toggle 1.1.Khái niệm. Spoiler: click to toggle Cây cảnh (hoặc cây kiểng) là một số loại thực vật được chăm sóc, gieo trồng và tạo dáng công phu, thường dùng làm vật trang trí hay một chi tiết trong thuật phong thủy. Cây cảnh được bài trí có khi nhằm thể hiện một ý tưởng của người trồng qua cách xếp đặt mà vẫn giữ được vẻ tự nhiên của lá. Thân cây được uốn theo một hình dáng nào đó, còn gọi là thế, kết hợp với chậu, đất hay nước là môi trường dinh dưỡng cho thực vật ấy. Bên cạnh mục tiêu làm cảnh (vì lẽ này cây cảnh đã được tuyên lên thành nghệ thuật như ở Nhật Bản có bon-sai) cây cảnh còn là một loại hàng hóa được kinh doanh không theo một khung giá cố định nào mà phần nhiều tùy hứng của người bán và người mua hoặc tùy tâm của người bán. Cây cảnh bonsai phát sinh ở phương Đông, có thể khẳng định là ở Trung Quốc, và nay đã đi vào cuộc sống như một mỹ tục, một thú chơi thể hiện một phần tâm hồn của người dân mọi vùng miền trong đó có Việt Nam. Các nghệ nhân đã gửi gắm vào cây cảnh tình cảm, ý niệm thẩm mỹ, tính chất của mình làm tăng thêm lòng yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu đất nước để tự khẳng định và hoàn thiện mình. Nghệ thuật chơi cây cảnh có tính quần chúng rộng rãi, tính dân tộc đậm đà, tính nhân văn cao quý, tính thẩm mỹ độc đáo, tính triết học sâu sắc tính sáng tạo mới mẻ, tính kinh tế cao.Ở Việt Nam, từ cây cảnh được dùng phổ biến hơn, cách gọi bonsai chủ yếu ở các tỉnh thành phía nam. Mới đây, cách gọi mới được khá nhiều người tán đồng ủng hộ là "Cây cảnh nghệ thuật" 1.2.Phân loại cây cảnh. Spoiler: click to toggle 1.2.1.Phân loại theo kiểu, cỡ cây. Cây lớn và cây nhỡ như: bách tán, tùng, vạn tuế, đào… Cây bụi như: mẫu đơn, trà, trúc, quất, ngâu… Cây thân thảo như: cúc, thược dược, lay ơn… Cây ký sinh như phong lan… Cây leo như: thiên lý, vạn niên thanh… 1.2.2.Phân loại theo cách trưng bày và mục đích sử dụng. Cây cắt hoa trưng bày. Cây trưng bày cả cây: Cây để hoa tự nhiên. Cây thế. Cây Bonsai. Cây cảnh kết hợp lấy bóng mát hoặc các tác dụng khác. 1.2.3.Phân loại theo môi trường sống của cây. Cây sống trong môi trường đất cạn. Cây sống trong môi trường ngập nước: Sen, súng… 1.2.4.Phân loại theo thời gian thu hoa. Các chia này chia ra hoa thời vụ và hoa quanh năm. 1.2.5.Phân loại theo phân loại thực vật. 2.Giá trị của hoa cây cảnh. Spoiler: click to toggle 2.1.Giá trị thẩm mỹ tinh thần. Spoiler: click to toggle Hoa là biểu tượng của cái đẹp, hoa có màu sắc tươi tắn hài hoài và hương thơm mật ngọt, hình thái đa dạng hấp dẫn cả con người và động vật. Hoa làm đẹp cảm xúc của con người tạo cho con người cảm giác yêu thương thanh thản. Hoa là biểu hiện của tình cảm, hoa đem lại giá trị tinh thần tình cảm mà không vật chất nào có thể so sánh được. Hay gặp nhất, phổ biến nhất trong tình yêu đôi lứa, tình bạn, tình cảm gia đình, tình thầy trò người ta thường tặng hoa để thể biện tình cảm. Hoa thể hiện sự trang trọng, kính yêu, sự huy hoàng, dung trong hội nghị, lễ, tết. 2.2.Giá trị về kinh tế. Spoiler: click to toggle Tùy từng năm tùy từng loại mà các loài hoa cây cảnh có giá trị khác nhau. Có thể từ một vài trăm đồng một bông hoa, nhưng cũng có thể một vài trăm nghìn đồng, vài triệu đồng một cây cảnh. Người ta thường trồng vào các thời điểm, thời vụ sao cho có hoa cây cảnh để ván vào dịp có nhu cầu mua hoa nhiều. Tương ứng với nhu cầu có các loại hình trồng cây hoa cảnh theo mục đích và thời gian sử dụng như: Hoa thời vụ: Hoa trồng để bán vào dịp Tết Nguyên đán và các ngày lễ lớn 8-3;30-4;1-5;1-6;2-9;20-11… Hoa quanh năm cung cấp cho nhu cầu hàng ngày hoặc các hội nghị. Cây cảnh lâu năm. 2.3.Giá trị khác của cây cảnh. Spoiler: click to toggle Hoa trồng được ở những vùng đất khô cằn vì cây hoa, cây cảnh thường là những cây có sức sống mãnh liệt, hoặc ở nơi mà cây lương thực thực phẩm không trồng được hoặc không nên trồng như đất hạn trồng cây cảnh chịu hạn, đất úng trồng sen, đất ô nhiếm trồng hoa. Hoa cây cảnh trồng làm đẹp cảnh quan môi trường như không gian chat hẹp trong những căn hộ, vừa làm cảnh vừa làm bóng mát hai bên đường và dải phân cách đường giao thong, tạo vành đai xanh cho thành phố cải tạo khí hậu, ngăn bụi, giảm tiếng ồn. Hoa và cây cảnh là những vị thuốc chữa bệnh: Hoa hồng dùng để chữa ho. Một số cây cảnh như đinh lăng, huệ, bạch thược có tác dụng cầm máu bồi bổ cơ thể. 3.Tình hình trồng hoa cây cảnh. Spoiler: click to toggle 3.1.Tình hình trồng hoa cây cảnh trên thế giới. Spoiler: click to toggle Hà Lan xuất khẩu chiếm 64,8% sản lượng hoa xuất khẩu trên thị trường thế giới với các loại hoa: Hoa hồng, hoa cúc, cẩm chướng, đồng tiền, huệ, phong lan, lay ơn. Colombia: chiếm 12% trên thị trường xuất khẩu thế giới với các loại hoa cẩm chướng, cúc, bồng. Israel: Chiếm 5,7% thị trường xuất khẩu hoa với các loại hoa cẩm chướng, hoa hồng, cúc, lay ơn. Bungari: trong nhiều hoa hồng. Trung Quốc: 3 nghìn ha hoa, khoảng 2 tỷ cành hoa trong năm 2000, trồng chủ yếu là hoa hồng, phăng, cúc, lay ơn, đồng tiền. Ấn Độ: 65.000 ha, giá trị đạt 2050 R.S/năm,trồng chủ yếu là hoa hồng, phăng, cúc, xuxi, lay ơn, đồng tiền, huệ, nhài, Anthurium, Gypsophila, lan. Việt Nam: 1.500 ha, trồng chủ yếu là hoa hồng, phăng, cúc, xuxi, lay ơn, đồng tiền, huệ, nhài. 3.2.Tình hình trồng hoa cây cảnh ở Việt Nam. Spoiler: click to toggle Ngay từ khi đất nước còn khó khăn gian khổ, khi đất nước còn chiến tranh, chúng ta vẫn quan tâm đến hoa và cây cảnh. Sau những trận bom Mỹ, ngày tết vẫn có hoa đào, hoa cúc nở. Ngày nay, đất nước đã hòa bình thống nhất, khi đời sống vật chất tăng lên, khi nỗi lo về lương thực đã lùi xa thì nhu cầu về tinh thần được quan tâm hơn, trong đó với ý nghĩa làm đẹp cho đời, làm đẹp cảm xúc thẩm mỹ cho con người thì nhu cầu hoa cảnh cũng tăng lên. Chủng loại hoa cảnh ngày càng phong phú và hấp dẫn: Các loại hoa cảnh truyền thống như: đào, mai, cúc, đồng tiền đơn, các loại huệ, phong lan… được gìn giữ và nhân giống rộng rãi, trồng phổ biến. Các giống hoa mới được nhập nội và được trồng với diện tích tăng dần như đồng tiền Pháp, cúc Đài Loan, hoa lyli… Kỹ thuật trồng hoa ngày càng tiên tiến: Có những kỹ thuật về trồng trọt, về tạo hình cây cảnh, bí quyết lâu năm được duy trì và phổ biến. Những công nghệ kỹ thuật mới tiên tiến được chuyển giao về cho nông dân và người trồng hoa như: Công nghệ sinh học, nuôi cấy mô, cách điều tiết cho hoa đẹp, hoa trái vụ. Việc tạo môi trường ánh sang nhiệt độ thích hợp với giống hoa mới nhập nội được vận dụng sáng tạo và có hiệu quả, phù hợp với điệu kiện cơ sở vật chất của người nông dân hiện nay. III.ỨNG DỤNG CNSH TRONG BÓN PHÂN CHO CÂY KIỂNG.
Spoiler: click to toggle Nói đến phân bón ta cần biết cây cảnh cần chất dinh dưỡng nào. Các chất dinh dưỡng duy trì sinh trưởng của cây gồm 10 nguyên tố sau: H, O, N, C, S, P, K, Ca, Fe, Mg, trong đó N, P, K có nhu cầu lớn nhất. Ngoài ra cây còn cần một số chất vi lượng như: B, Zn, Cu, Mo. Những nguyên tố đó thường có trong phân bón và đất. Phân bón thường chia ra: phân hữu cơ (cả hữu cơ sinh học); phân vô cơ (phân đa lượng, trung lượng, vi lượng); phân vi sinh vật. Phân hữu cơ và phân vô cơ đều cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng nhưng không thể thay thế cho nhau. Mỗi loại cây trồng đều có nhu cầu phân bón nhất định. Trên cơ sở sinh lý, sinh thái mỗi loại cây trồng, điều kiện thổ nhưỡng từng nơi, kết quả nghiên cứu chế độ bón phân. Mục đích, yêu cầu của bón phân thích hợp là: đáp ứng nhu cầu của cây, đạt được hiệu lực và hiệu quả của phân bón, lượng phân thất thoát ít nhất. Đặc điểm của phân hữu cơ là hiệu lực kéo dài, đủ các chất dinh dưỡng, có tác dụng cải tạo đất lớn. Nhưng trước khi dung phải thong qua xử lý lên men cho đến khi mất mùi thối mới dùng. Phân vô cơ là các nguyên tố dinh dưỡng khoáng được chế tạo bằng phương pháp tổng hợp hóa học từ đá thiên nhiên, như ure (NH4)2SO4, NH4Cl, NH4NO3…trong phân đạm: bột khoáng lân trong phân lân; KCl, K2SO4 trong phân kali. Phân lân có lúc dung làm phân bón lót, các loại phân khác chỉ dùng để bón thúc. Hiệu lực của phân vô cơ nhanh nhưng bón đơn thuần không bền. Với nhóm phân vi sinh vật: Thông qua việc bón phân vi sinh chúng ta đã cung cấp vào trong đất các vi sinh vật phân giải đạm, lân có tác dụng như những nhà máy sản xuất phân đạm, phân lân hoá học ngay trong đất để trực tiếp cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng. Sử dụng phân vi sinh có thể thay thế được lượng phân đạm và phân lân hoá học từ 50 đến 100% tuỳ theo từng loại cây trồng. Phân vi sinh chủ yếu được dùng để bón lót nhiều hơn là bón thúc 1.Phân bón vi sinh vật. Spoiler: click to toggle 1.1.Khái niệm Spoiler: click to toggle Phân bón vi sinh vật (phân vi sinh) là sản phẩm chứa các vi sinh vật sống đã được tuyển chọn có mật độ phù hợp với tiêu chuẩn ban hành, thông qua các hoạt động sống của chúng tạo nên các chất dinh dưỡng mà cây trồng có thể sử dụng được (N, P, K, S, Fe). Theo định nghĩa trên phân bón VSV được hiểu như sau: Phân bón VSV phải là sản phẩm chứa các VSV sống dưới dạng tồn tại tế bào sinh trưởng hoặc bào tử. VSV chứa trong phân bón VSV phải là các VSV đã được tuyển chọn đánh giá có hoạt tính sinh học, có khả năng sinh trưởng, phát triển và thích nghi với điều kiện môi trường sống mà ở đó chúng được sử dụng. 1.2.Phân loại phân bón vi sinh vật. Spoiler: click to toggle 1.2.1.Phân loại theo công nghệ sản xuất phân bón: Tùy theo công nghệ sản xuất, người ta có thể chia phân vi sinh vật (VSV) thành hai loại như sau: Phân vi sinh vật trên nền chất mang khử trùng có mật độ vi sinh vật hữu ích >109 vi sinh vật/g (ml) và mật độ vi sinh vật tạp nhiễm thấp hơn 1/1000 so với vi sinh vật hữu ích. Phân bón dạng này được tạo thành bằng cách tẩm nhiễm sinh khối vi sinh vật sống đã qua tuyển chọn vào cơ chất đã được xử lý vô trùng bằng các phương pháp khác nhau. Phân bón vi sinh vật trên nền chất chất mang đã khử trùng được sử dụng dưới dạng nhiễm hạt, hồ rễ hoặc tưới phủ với liều lượng 1-1,5 kg (lit)/ha canh tác. Phân vi sinh trên nền chất mang không khử trùng được sản xuất bằng cách tẩm nhiễm trực tiếp sinh khối vi sinh vật sống đã qua tuyển chọn vào cơ chất không cần thông qua công đoạn khử trùng cơ chất. Phân bón dạng này có mật độ vi sinh vật hữu ích 106 vi sinh vật/g (ml) và được sử dụng với số lượng từ vài trăm đến hàng nghìn kg (lit)/ha. Đối với phân bón vi sinh vật trên nền chất mang không khử trùng, tùy theo thành phần các chất chứa trong chất mang mà phân bón vi sinh vật dạng này được phân biệt thành các loại: Phân hữu cơ vi sinh vật: là sản phẩm phân hữu cơ có chứa các vi sinh vật sống đã được tuyển chọn có mật độ phù hợp với tiêu chuẩn ban hành, thông qua các hoạt động sống của chúng tạo nên các chất dinh dưỡng mà cây trồng có thể sử dụng hay các hoạt chất sinh học góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản. Vi sinh vật trợ giúp quá trình chế biến phân ủ là các vi sinh vật lựa chọn có khả năng thúc đẩy nhanh quá trình chuyển hóa phế thải hữu cơ thành phân bón Phân hữu cơ khoáng vi sinh vật: là một dạng của phân hữu cơ VSV, trong đó có chứa một lượng nhất định các dinh dưỡng khoáng. 1.2.2.Phân loại theo tính năng tác dụng của các nhóm vi sinh vật chứa trong phân bón . Trên cơ sở tính năng tác dụng của các VSV chứa trong phân bón, phân VSV còn được gọi dưới các tên: Phân VSV cố định nitơ (phân đạm vi sinh) là sản phẩm chứa các VSV sống cộng sinh với cây họ đậu (đậu tương, lạc, đậu xanh, đậu đen, v.v...), hội sinh trong vùng rễ cây trồng cạn hay tự do trong đất, nước có khả năng sử dụng nitơ từ không khí, tổng hợp thành đạm cung cấp cho đất và cây trồng. Phân bón vi sinh vật phân giải hợp chất photpho khó tan (phân lân vi sinh) sản xuất từ các vi sinh vật có khả năng chuyển hóa các hợp chất photpho khó tan thành dễ tiêu cho cây trồng sử dụng. Phân VSV kích thích, điều hòa sinh trưởng thực vật chứa các VSV có khả năng sinh tổng hợp các hoạt chất sinh học có tác dụng điều hòa hoặc kích thích quá trình trao đổi chất của cây. Phân vi sinh vật chức năng là một dạng của phân bón vi sinh vật ngoài khả năng tạo nên các chất dinh dưỡng cho đất, cây trồng, còn có thể ức chế, kìm hãm sự phát sinh, phát triển của một số bệnh vùng rễ cây trồng do vi khuẩn và vi nấm gây nên. 1.2.3.Phân loại theo trạng thái vật lý của phân bón Căn cứ vào trạng thái vật lý của phân bón, có thể chia phân bón vi sinh vật thành các loại sau: Phân vi sinh vật dạng bột là dạng phân bón vi sinh, trong đó sinh khối vi sinh vật sống đã được tuyển chọn và chất mang được xử lý thành dạng bột mịn. Phân vi sinh vật dạng lỏng là một loại phân bón vi sinh, trong đó sinh khối vi sinh vật từ các vi sinh vật tuyển chọn được chế biến tạo nên dung dịch có chứa các tế bào sống của chúng. Phân vi sinh vật dạng viên được tạo thành khi sinh khối vi sinh vật được phối trộn và xử lý cùng chất mang tạo thành các hạt phân bón có chứa các vi sinh vật sống đã được tuyển chọn. 1.3.Phân bón vi sinh vật cố định nitơ. Spoiler: click to toggle Phân bón vi sinh vật cố định nitơ (tên thường gọi: phân đạm vi sinh vật cố định đạm) là sản phẩm chứa một hay nhiều chủng vi sinh vật sống, đã được tuyển chịn với mật độ đạt theo tiêu chuẩn hiện hành, có khả năng cố định nitơ từ không khí cung cấp các hợp chất chứa nitơ cho đất và cây trồng. Vi sinh vật cố định nito là vi sinh vật sống cộng sinh hay hội sinh với cây trồng, hoặc vi sinh vật sống tự do trong đất, nước, không khí, có khả năng tạo khuẩn lạc đặc trưng trên môi trường nuôi cấy không chứa hợp chất nito. Hiệu quả sử dụng phân đạm: Ngoài tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng và góp phần đáng kể phân bón vô cơ, thông qua các hoạt chất sinh học của chúng phân VSV cón có tác dụng điều hòa, kích thích quá trình sinh tổng hợp của cây trồng, đồng thời nâng cao sức đề kháng của cây trồng đối với một số sâu bệnh hại. 1.4.Phân bón vi sinh vật phân giải hợp chất photpho khó tan. Spoiler: click to toggle Phân bón vi sinh vật phân giải hợp chất photpho khó tan (tên thường gọi: phân lân vi sinh) là sản phẩm chứa một hay nhiều chủng vi sinh vật sống đã được tuyển chọn với mật độ tế bào đạt tiêu chuẩn hiện hành, có khả năng chuyển hóa hợp chất photpho khó tan thành dạng dễ tiêu cung cấp cho đất và cây trồng. Phân lân vi sinh và các chủng vi sinh vật này không ảnh hưởng xấu đến con người, động thực vật, môi trường sinh thái. Vi sinh vật phân giải hợp chất photpho khó tan là vi sinh vật, thông qua hoạt động của chúng, với các hợp chất photpho khó tan được chuyển hóa thành dễ tiêu đối với cây trồng. Vi sinh vật phân giải hợp chất khó tan tạo vòng tròn trong suốt bao quanh khuẩn lạc (vòng phân giải) trên môi trường chứa nguồn photpho duy nhất là Ca3(PO4). Hiệu quả của phân lân: bón phân vi sinh có tác dụng làm tăng số lượng vi sinh vật phân giải lân trong đất, dẫn đến tăng cường độ phân giải lân khó tan trong đất 23-35%. Cây trồng phát triển tốt hơn, thân lá cây mập hơn, to hơn, bản lá dày hơn, tăng suất đề kháng sâu bệnh. 1.5.Phân bón vi sinh vật phân giải xenluloza. Spoiler: click to toggle Phân bón vi sinh vật phân giải xenluloza (tên thường gọi: phân vi sinh phân giải xenluloza) là sản phẩm chứa một hay nhiều chủng vi sinh vật sống, đã được tuyển chọn với mật độ đạt theo tiêu chuẩn hiện hành có khả năng phân giải xenluloza, để cung cấp chất dinh dưỡng cho đất và cây trồng, tạo điều kiện nâng cao năng suất, tăng độ màu mỡ của đất. Phân vi sinh vật phân giải xenluloza và các chủng vi sinh vật này không ảnh hưởng xấu đến người, động thực vật, môi trường sinh thái. Vi sinh vật phân giải xenluloza có khả năng phát triển trên môi trường chứa nguồn cascbon duy nhất là xenluloza tự nhiên. 2.Phân bón hữu cơ sinh học. Spoiler: click to toggle Phân hữu cơ sinh học là sản phẩm phân bón được tạo thành thông qua quá trình lên men vi sinh vật các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc khác nhau (phế thải nông, lâm nghiệp, phế thải chăn nuôi, phế thải chế biến, phế thải đô thị, phế thải sinh hoạt...), trong đó các hợp chất hữu cơ phức tạp dưới tác động của vi sinh vật hoặc các hoạt chất sinh học được chuyển hóa thành mùn. 3.Bón phân cho cây kiểng. Spoiler: click to toggle 3.1.Cách bón phân cho cây cảnh và tác dụng của việc bón phân. Spoiler: click to toggle Hiện nay, việc sử dụng ngày càng nhiều các loại phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật... đã làm cho đất đai ngày càng thoái hóa, dinh dưỡng bị mất cân đối, mất cân bằng hệ sinh thái đất, hệ vi sinh vật trong đất bị phá hủy, tồn dư các chất độc hại trong đất ngày càng cao, nguồn bệnh tích lũy trong đất càng nhiều, dẫn đến phát sinh một số dịch hại không dự báo trước. Theo đánh giá của các nhà khoa học, chế phẩm sinh học không gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng; không gây ô nhiễm môi trường sinh thái, có tác dụng cân bằng hệ sinh thái (vi sinh vật, dinh dưỡng…) trong môi trường đất nói riêng và môi trường nói chung; việc ứng dụng các chế phẩm sinh học không làm hại kết cấu đất, không làm chai đất, thoái hóa đất mà còn góp phần tăng độ phì nhiêu của đất; có tác dụng đồng hóa các chất dinh dưỡng, góp phần tăng năng suất và chất lượng nông sản phẩm; có tác dụng tiêu diệt côn trùng gây hại, giảm thiểu bệnh hại, tăng khả năng đề kháng bệnh của cây trồng mà không làm ảnh hưởng đến môi trường như các loại phân hoá học hay thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học; có khả năng phân hủy, chuyển hóa các chất hữu cơ bền vững, các phế thải sinh học, phế thải nông nghiệp, góp phần làm sạch môi trường. Phân bón cây cảnh là loại phân hữu cơ sinh học được sản xuất để sử dụng bón cho các loại hoa, cây cảnh, vườn ươm. Phân bón cây cảnh phát huy tác dụng rõ rệt thể hiện qua việc giúp các loại hoa cây cảnh phát triển ổn định, bền vững. Phân vi sinh là các chế phẩm chứa các vi sinh vật sống có hoạt lực cao đã được tuyển chọn. Thông qua các hoạt động, các vi sinh vật tạo ra các chất dinh dưỡng cho đất và cây trồng làm cho cây trồng phát triển tốt hơn. Thông qua việc bón phân vi sinh để cung cấp vào trong đất các vi sinh vật phân giải đạm, lân có tác dụng như những nhà máy sản xuất phân đạm, phân lân hoá học ngay trong đất để trực tiếp cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng. Sử dụng phân vi sinh có thể thay thế được lượng phân đạm và phân lân hoá học từ 50 đến 100% tuỳ theo từng loại cây trồng. Hơn thế khi sử dụng phân vi sinh nông sản không bị nhiễm độc, lượng độc tố NO3 tồn đọng trong sản phẩm giảm đáng kể. So với phân hoá học, đặc biệt là phân urê thì giá phân vi sinh rẻ hơn do đó hiệu quả thu được cũng cao hơn.. Do tác dụng chậm hơn so với phân hoá học nên phân vi sinh chủ yếu được dùng để bón lót nhiều hơn là bón thúc. Việc bón phân cho cây cảnh thường chỉ tiến hành bón cho những cây cảnh được trồng quá lâu với thời gian dài trong chậu hoặc bốn cảnh hoặc là tiến hành bón theo yêu cầu điều chỉnh sinh trưởng của người trồng trên luống đất của vườn nhà. Có 2 phương pháp bón phân cho cây cảnh; Bón vào đất và bón thông qua tưới nước vào bộ lá cho cây. Phương pháp bón phân cùng với nước tưới được áp dụng nhiều đối với cây trồng trong chậu hay trong phạm vi hẹp. Với mục đích cung cấp dinh dưỡng khoáng cho cây sinh trưởng và phát triển trong quá trình trồng trong bồn, chậu hoặc trên luống đất nên các loại phân để bón thường dùng là các loại phân dễ tiêu, nhan phân giải và cây mau chóng sử dụng được. Việc bón như vậy được gọi là bón thúc khác với việc bón cơ bản là sử dụng các loại phân chậm phân giải, khó tiểu bón trước khi trồng hoặc khi thay đất và chậu cho cây. Ngoài các yếu tố đa lượng người trồng cây còn phải chú ý bón các loại phân vi lượng cho cây. Thông thường các phân bón đa lượng được bón trực tiếp vào đất còn phân vi lượng bón cho cây thong qua việc tan vào nước phun hoặc tưới cho cây. Liều lượng một lần bón cho cây trước hết phụ thuộc vào nhu cầu của cây, giai đoạn sinh trưởng, màu vụ bón, loại phân bón, khả năng hấp thụ phân bón của đất cũng như khối lượng đất hay kích thước của chậu hay bồn trồng. Tuỳ thuộc vào các yếu tố trên mà xác định lượng phân cho 1 lần bón thích hợp song lượng phân bón không nên vượt quá ngưỡng bón sau cho mỗi lần thêm 1kg đất trong chậu như sau: Đối với đạm 1 kg đất không nên bón quá 10g đạm. Đối với phân lân là 2,5g lân nguyên chất và kali là 0,5g kali nguyên chất cho một lần bón. Tuỳ theo loại phân thương phẩm dùng để bón, hàm lượng nguyên chất và khối lượng đất trong chậu mà ta tính được giới hạn bón cho chậu hoặc bồn cảnh của mình. Các cây cảnh thường được bón phân đạm, lân, kali theo tỷ lệ N:P:K=1:3:1 và kết hợp với phân vi lượng. Hiện nay phân vi lượng đã có 1 số cơ sở chế biến tạo thành túi nhỏ cho các cây trồng nông nghiệp nói chung, chúng ta có thể sử dụng loại chế phẩm này cho cây cảnh. Việc bón phân còn phải chú ý cả đến thời kỳ và thời gian bón cho cây cảnh nhất là các cây cảnh có hoa, quả. Đối với các cây cảnh có hoa, quả thì việc bón chú ý không nên bón vào thời kỳ cây đang ra hoa kết quả mà nên bón trước thời kỳ này hoặc sau đó từ 15-20 ngày, thông thường thì người ta bón cho cây còn non, ít tuổi nhiều lần trong năm còn các cây lớn tuổi cao thì bón ít lần hơn. Thời kỳ bón thích hợp cho cây cảnh là vào đầu mùa mưa hoặc gần cuối mùa mưa, hoặc vào vụ xuân và vụ thu hàng năm cho cây. Đối với các loại phân dễ tiêu cần bón trực tiếp vào đất thì trong cách thức bón người trồng phải xới đất. 3.2.Một số loại phân bón dùng trong bón phân cho cây kiểng: Spoiler: click to toggle Dùng để bón lót cho hoa và cây cảnh. Tác dụng: cung cấp các chất dinh dưỡng thiết yếu cho hoa và cây cảnh, giúp hoa và cây cảnh sinh trưởng phát triển tốt; đối với hoa tăng số lượng bông, và giúp hoa bền đẹp; đối với cây cảnh giúp cây sinh trưởng tốt, chống chịu sâu bệnh, dễ tạo dáng. Ngoài ra bón phân Sông Gianh còn có tác dụng cải tạo đất, bồi bổ đất. Sông Gianh lợi ích vô tận người bạn hiền hoà của nhà nông Phân Komix hoa kiểng Cung cấp nhiều chất hữu cơ làm tơi xốp đất, tạo điều kiện cho VSV và rễ phát triển mạnh. Đồng thời điều tiết dinh dưỡng, giảm sự rửa trôi theo nước. Đưa vào đất các chủng VSV có ích để phân giải chất khó tan thành dễ tiêu cho cây, nhất là chất lân. Cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng đa, trung, vi lượng để điều hòa sự phát triển của hoa kiểng theo ý muốn. Giúp cho màu hoa sắc lá tươi thắm, lâu bền hơn. Hạn chế sâu bệnh gây hại cho hoa kiểng. Đặc biệt phân Komix là loại phân sạch, thay thế hoàn toàn phân chuồng để tránh tình trạng hôi bẩn cho môi trường dân cư. Cách sử dụng: Đối với hoa thời vụ có quy trình sinh trưởng dưới 150 ngày: bón 2kg phân cho 10m2 líp, trộn thật đều với đất, rạch hang xuống giống. Đối với hoa kiểng lưu niên trồng trong bồn hoặc chậu: trộn 5-10% phân với 90-95% đất bột cho vào chậu hoặc bồn trước khi trồng.Cứ 2 tháng bón một lần. Cần cây sinh trưởng nhanh bón 10% so với đất trong bồn/chậu. Cần duy trì cây mảnh mai, bón 5% hoặc ít hơn so với lượng đất trong bồn/chậu. Bón xong tưới đủ âm.
**Bón phân cây kiềng lá, cây hao thân gỗ; Cây kiểng lá: a) Lót khi trồng: 1-2kg phân chuồng hoặc phân tro 50-100g Compomix Đầu Trâu b) Bón thúc: Lần 1 (sau trồng 10-15 ngày): 30-50g phân khoáng hữu cơ Compomix Thúc định kỳ mỗi tháng một lần: 50-100g Compomix Thúc sau mỗi lần xén tỉa tạo hình: 30-50g NPK 20-10-10. + 2-3kg phân hữu cơ, chia ra bón 2 lần/năm. Cây hoa thân gỗ: a) Bón lót: Cho mỗi hố trồng 5-10kg phân hữu cơ + 0,5-1kg lân Đầu Trâu trước khi đặt cây. Nếu trồng trong chậu cần 1/3 phân chuồng + 2/3 đất sạch Compost Đầu Trâu và 50g lân Đầu Trâu cho mỗi chậu. b) Bón thúc hàng năm: Một năm bón làm 4-5 đợt, lượng bón cho mỗi đợt: 100-200g Compomix/cây 70-120 gam NPK 13-13-13+TE 2-3kg phân hữu cơ/cây, bón vào cuối mùa mưa. Trong thực tế với những cây hoa thân gỗ trồng trong công viên và dải phân cách trên đường hoặc trong điều kiện nhiều khói bụi, cây thường ra hoa rất ít, đôi khi không ra hoa. Trong trường hợp này tưới nước thường xuyên lên thân lá để rửa bớt bụi, khói và phun phân bón lá Đầu Trâu 501, Đầu Trâu 701 và Đầu Trâu 901 theo quy trình sau: Thời kỳ cây đang lớn hoặc sau cắt tỉa: Pha 1-2 gam Đầu Trâu 501 trong 1 lít nước, phun định kỳ 7-10 ngày/lần. Thời kỳ cây trưởng thành sắp ra nụ: Pha 1-2 gam Đầu Trâu 701 trong 1 lít nước, phun định kỳ 7-10 ngày/lần. Phun dưỡng cây định kỳ bằng cách pha 1-2 gam Đầu Trâu 901 trong 1 lít nước, phun định kỳ 7-10 ngày/lần Bón phân cho cây đào Bón lót: phân hữu cơ vi sinh với lượng 2-3 kg/cây. Bón phân thúc: Sau tết, cần chuyển ngay đào ra trồng trong đất hoặc thay hỗn hợp đất mới (3-4 phần đất 1 phần phân hữu cơ vi sinh ANVI). Bón lót khi trồng 3-5 kg phân hữu cơ vi sinh ANVI/cây tùy theo cây lớn hay nhỏ. Đối với đào gốc sau khi thu hoạch cành bán tết cần bón 3-5 kg phân hữu cơ vi sinh ANVI/cây ngay sau tết 10-15 ngày. Tưới thúc bằng cách hòa 15-25 gam phân NPK 20-20- 15 /10 lít nước để tưới sau khi bón phân hữu cơ 10-15 ngày. Bón thúc bằng phân NPK 20-20-15 hoặc NPK 13-13-13 với lượng 50-100gam/cây, định kỳ 15-20 ngày/lần kết hợp xới đất và phun phân bón lá ANVI-TE 501 nhằm giúp cây để cây phát nhiều cành, tán sum xuê. Từ trung tuần tháng 10 đến tháng 11 âm lịch, tùy theo năm nhuận hay thường và tình hình sinh trưởng của cây để quyết định ngừng bón phân gốc, chỉ phun phân bón lá ANVI-TE 701 nhằm hạn chế tăng trưởng thân lá, thúc đẩy phân hóa mầm hoa.
|