- Posts:
- 6
- Group:
- DHTP5-N2
- Member
- #1,038
- Joined:
- Dec 31, 2011
|
IV.ỨNG DỤNG CNSH TRONG XỬ LÝ BỆNH CHO CÂY KIỂNG.
Spoiler: click to toggle 1.Cây cảnh thường bị hại ở những loại bệnh nào? Spoiler: click to toggle Cũng như các loại thực vật khác, cây cảnh trong quá trình sinh trưởng phát triển không thể tránh khỏi sự xâm nhiễm của bệnh, ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, làm giảm giá trị làm cảnh của cây. Các loại bệnh hại bao gồm bệnh không truyền nhiễm (hay bệnh sinh lý) và bệnh truyền nhiễm (hay bệnh ký sinh). *Bệnh không truyền nhiễm. Là bệnh không lây lan và do nhiều nguyên nhân gây ra như: nhiệt độ, độ ẩm, đất đai, phân bón không thích hợp.Muốn phòng trừ những bệnh hại này chỉ cần nâng cao điều kiện sinh trưởng, cải thiện các biện pháp trồng. *Bệnh truyền nhiễm. Là những bệnh lây lan do các vi sinh vật gây ra như nấm, vi khuẩn, virus, tuyến trùng. Những sinh vật đó có thể sinh sản và lây lan trong điều kiện thuận lợi chúng có thể lây lan nhanh, tác hịa nghiêm trọng. Sự phát triển bệnh truyền nhiễm cũng do môi trường không sạch, cỏ dại nhiều, bệnh lây nhanh. Chỉ có cải thiện điều kiện môi trường, cải tiến kỹ thuật trồng cây mới làm cho cây khỏe, nâng cao tính chống chịu bệnh, giảm bớt nguồn lây bệnh. Cây cảnh thường gặp một số bệnh như sau: 1.1.Bệnh phấn trắng Spoiler: click to toggle Bệnh phấn trắng phát sinh trên lá và cành non, cuống hoa, cuống chồi. Bộ phận bị bệnh được phủ lớp bột trắng, lá non và hoa xoăn lại, bệnh nặng có thể làm cho cây chết. Bệnh qua đông trên chồi, cành bệnh và lá rụng. Khi nhiệt độ 18-25oC sẽ sinh ra bào tử lây lan xâm nhiễm. Tháng 6-8 hình thành hang loạt bào tử và tái xâm nhiễm. Nếu bón nhiều phân nitơ, đất thiếu canxi hoặc đất cát khô đều có thể làm cho bệnh phát sinh. Những nơi thiếu ánh sang, độ ẩm không khí cao, không thoáng gió cũng làm cho bệnh nặng them. Những nơi biến đổi nhiệt độ nhiều, đất khô phá hoại tác dụng bốc hơi bình thường, làm giảm sức căng mô tế bào làm giảm sức chống chịu bệnh, bệnh cũng nặng dần. 1.2.Bệnh gỉ sắt Spoiler: click to toggle Bệnh gỉ sắt hình thành bào tử đảm trên cành non và gốc lá, thời kỳ đầu phiến lá và cuống hoa có các đốm sùi lên, vỏ nứt và bào tử hạ màu vàng bay ra. Nấm qua đông bằng bào tử đông cà sợi nấm trên mô bệnh. Tháng 6-7 khi nhiệt độ 24-25oC, độ ẩm 85%, bệnh gỉ sắt sẽ phát sinh và lây lan. Trong các khu vực quanh năm ấm áp, bào tử hạ có thể qua đông và thành nguồn lây lan. Những nơi quản lý kém, trồng quá dày không thoáng gió, thiếu ánh sang, tích nhiều nước trong đất, nghèo dinh dưỡng hoặc bón phân quá nhiều rất dễ bị bệnh gỉ sắt. 1.3.Bệnh bồ hóng. Spoiler: click to toggle Bệnh bồ hóng thường được thấy trên lá cây hoa trà, làm mốc đen cả cây và ảnh hưởng đến quang hợp của lá cây. Lớp bột đen trên lá là những vỏ túi kín, sợi nấm, bào tử phân sinh; bào tử túi qua đông thành nguồn xâm nhiễm ban đầu. Các chất tiết của rệp sáp, rệp ống đều có thể kích thích bào tử nảy mầm. Bào tử và sợi nấm lây lan nhờ gió, côn trùng và xâm nhiễm lại. 1.4.Bệnh đốm lá. Spoiler: click to toggle Bệnh đốm lá gây hại trên lá tạo nên các đốm tròn, màu tím, đỏ, nâu, đen, xám, trắng, có viền mép rõ rệt. Trên đốm có các chấm nhỏ đẹn tạo thành các vân vòng hoặc không có vân vòng đồng tâm. 1.5.Bệnh đốm than. Spoiler: click to toggle Bệnh đốm than chủ yếu gây bệnh trên lá, có thể cả trên cành non, thường có hai hiện tượng giữa đốm bệnh xuất hiện màu nâu nhạt hoặc trắng xám mép có viền nâu sẫm hình gần tròn, thương phát sinh trên mép lá hoặc ngọn lá, trên lá có các chấm nhỏ, xếp thành vân vòng đồng tâm. Một loại khác là trên cành hình thành các đốm hình tròn hoặc gần tròn màu nâu nhạt, trên mặt có các chấm nhỏ màu đen. Bệnh qua đông trên cây bệnh trên cây bệnh hoặc trong đất bằng sợi nấm. Khi nhiệt độ 22-28oC, độ ẩm 95%, đất chua pH 5,5-6, bào tử nảy mầm xâm nhiễm lây lan. Bệnh lây lan nhờ gió mưa. 1.6.Bệnh mốc xám. Spoiler: click to toggle Bệnh mốc xám có thể gây bệnh trên lá, hoa, cành. Bộ phận bị bệnh hình thành lớp mốc màu vàng hoặc màu xám, thân cây bị bệnh có thể bị gãy thối và làm cho cả cây bị chết. Bệnh qua đông nhờ hạch nấm trong đất, mùa xuân hình thành bào tử lây lan nhờ gió, mưa. Cây trồng nhiều năm, bón phân nito quá nhiều, trồng quá dày, thiếu ánh sang, không thoát nước bệnh sẽ rất nặng. 1.7.Bệnh thối cổ rễ. Spoiler: click to toggle Bệnh thối cổ rễ phát sinh trên cây con là chính, nhưng có thể gây ra trên cả các giai đoạn khác làm thối hạt, thối mầm, cây đổ và chết đứng. Bệnh qua đông trông đất làm nguồn xâm nhiễm. Khi nhiệt độ 23-32oC, cây con vừa lên được 20 ngày, gặp mưa nhiều, thiếu ánh sang bệnh sẽ phát sinh phát triển. 1.8.Bệnh thối nhũn do vi khuẩn. Spoiler: click to toggle Bệnh thối nhũng phát sinh chủ yếu trên cây cảnh rễ củ, rễ chum, sau khi cây bị thối thường có mùi. Bệnh làm cho lá, thân cây phình nước, màu sẫm, mềm có chất nhầy, cắt cây có ống dẫn màu nâu, đen. Bệnh nặng có thể thấy chất nhầy màu trắng sáp và có mùi thối. Bệnh qua đông trong đất và nước tưới, lây lan nhờ côn trùng, xâm nhập qua vết thương. Vi khuẩn gây bệnh tiết ra chất độc làm cho các tế bào bị chết. Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển vi khuẩn là 27-30oC, thời tiết ẩm, đất nhiều nước có lợi cho vi khuẩn sinh sản lây lan. Nhiệt độ cao, độ ẩm cao, không thoáng gió thường hay có bệnh này. 1.9.Bệnh virus. Spoiler: click to toggle Bệnh cây do virus gây ra được gọi chung là bệnh virus. Rất nhiều loài cây cảnh bị bệnh virus như cây thủy tiên, cây cẩm chướng, cây loa kèm. Bệnh virus gây ra làm giảm sản lượng, gây tổn thất rất lớn. Bệnh virus thường có 3 loại hiện tượng: Làm mất màu gây ra khảm lá hoặc vàng lá. Mô bị chết thối. Xoăn lá, lá cành nhỏ lại. Phương thức lây lan: Thông qua nhựa cây do tiếp ghép, chuyển cây, tỉa cành. Lây lan nhờ côn trùng miệng chit như ve, rệp. Thông qua củ, vẩy của cây cảnh. 1.10.Ngoài ra, ta thường gặp một số loại sâu hại cây cảnh như: Spoiler: click to toggle Rệp sáp: có thân nhỏ, tiết ra chất sáp, tụ tập trên cành, lá, quả, dung miệng hút nhựa trên lá, cành làm cho cành khô mà chết. Nhện đỏ: có thân nhỏ, dài 1mm màu vàng hoặc đỏ, sức sinh sản mạnh, mối năm trên 10 lứa. Khi nhiệt độ cao, khô hạn, sinh sản càng nhanh gây hại càng nặng. Nhện trưởng thành dung miệng chích hút nhựa trong mô thịt lá làm mất chất diệp lục, làm cho lá có đốm vàng rồi rụng. Rệp ống: thân nhỏ, mềm phần lớn có ống, thường tụ tập hang trăm con trên lá, cành non để hút nhựa cây gây ra hiện tượng lá xoăn, rụng và chết. Rệp phấn: có thân nhỏ, trên thân có phủ phấn trắng, tụ tập gây hại dung vòi hút nhựa cây làm cho lá vàng khô, rụng. Bọ xít lưới: thuộc loại thân nhỏ dẹt, dài 3,6 mm, rộng 2mm, màu nâu đen, mảnh lưng ngực trắng và cánh trước có vân hoa dạng lưới, sâu con dẹt dài 1,95mm rộng 0,95mm, ngực trước phát triển, có mầm cánh, bụng phát triển màu đỏ. Ve lá: có thân nhỏ, sang sống ở dưới lá hút nhựa cây, lá bị hại thành đốm trắng nhạt, rồi khô dần. Ve lá sinh sản nhiều lứa, thích ứng mạnh với khí hậu, thường truyền bệnh virus. Bọ hung: sâu trưởng thành thường ăn hoa, lá, cành non, khi phát dịch có thể ăn trụi lá, hoa. Xén tóc: là loại sâu đục thân, mối năm đẻ 1 đến nhiều lứa, qua đông bằng sâu non trong thân cành cây. Sâu non và sâu trưởng thành đếu ăn hại cây, xén tóc gây hại có thể làm cho cây chết. Dế men: thường gây hại rễ cây non, mỗi năm đẻ 1 lứa. Ban đêm cắn ngang cây mang về hang. 2.Tạo giống cây có khả năng kháng bệnh, sạch bệnh. Spoiler: click to toggle Để tiến hành tạo cây sạch bệnh virus bằng kĩ thuật nuôi cấy mô và tế bào, người ta thường dùng mô phân sinh ở đỉnh chồi. Những mô này chứa những tế bào sinh trưởng và được bao một lớp vỏ cutin. Sự hình thành mới các cơ quan của thực vật bắt đầu trong các mô phân sinh ở đỉnh chồi này. Các mô đó phân hóa ngay từ những giai đoạn đầu của phôi và giữ lại trong suốt quá trình sống của cây. Mô phân sinh là vùng khỏe mạnh nhất của cây, vì người ta thấy rằng, quá trình sinh tổng hợp DNA của virus thực vật không xẩy ra được ở vùng này – do một cơ chế gì hiện nay chưa rõ, thậm chí cả cây bị bệnh virus nhưng phần này vẫn không bị nhiễm virus. Vì mô phân sinh có các tế bào phôi nên khi nuôi cấy tạo nên callus. Dùng các chất ĐHST khác nhau như gibbrelline, auxin, cytokinine, v.v. để kích thích khối tế bào không phân hóa này đâm chồi. Từ đó hình thành nên những cây con khỏe mạnh không bị virus. Tạo ra những cây lai mới có tính ưu việt bằng kĩ thuật protoplast Protoplast là tế bào trần. Thành tế bào cellulose đã bị tiêu hủy bởi enzyme cellulase hay drilselase, nó chỉ còn màng sinh chất bao quanh. Protoplast có khả năng dung hợp (fusion) với nhau để tạo thành các thể lai vô tính dưới tác dụng của một tác nhân hóa học hay vật lí để làm các màng kết dính lại với nhau và gây ra sự chuyển vận các đại phân tử DNA, các protein, các bào tử từ tế bào nọ sang tế bào kia. Dung hợp là quá tr.nh hợp nhất 2 protoplast lại làm một. Hiện tượng này phổ biến. Sự thật con người sinh ra cũng là kết quả một sự dung hợp giữa tinh trùng và noãn trứng, tạo thành hợp tử có dấu hiệu di truyền của cả 2 tế bào hợp lại. Chỉ có điều quá tr.nh đó gọi là lai hữu tính. Các tế bào thực vật có khả năng dung hợp dưới dạng protoplast. Hai protoplast dung hợp lại có thể sinh ra một cây con hoàn chỉnh dưới dấu hiệu di truyền của hai tế bào hợp lại. Nhưng quá trình này là quá trình lai vô tính (somatic hybridization). Ngày nay nhờ lai vô tính mà người ta cải tạo được nhanh chóng bộ máy di truyền tế bào nhằm tạo những giống mới có năng suất cao. Sử dụng kĩ thuật protoplast, người ta đã lai tạo giữa cây trồng với cây hoang dại để đề kháng một số trạng thái trong môi trường bất thuận như tạo ra những cây chịu hạn cao, chịu rét giỏi, chống chịu sâu bệnh, phèn, mặn, v.v. Thực tiễn Hệ thống nuôi cấy ngập chìm tạm thời (TIS); công nghệ nhân giống lan bằng nuôi cấy mô; nhân giống in vitro một số loại hoa kiểng... là 3 công nghệ cao trong sản xuất hoa và cây kiểng, hiện đang được áp dụng tại TP.HCM. Hệ thống nuôi cấy ngập chìm tạm thời (TIS) Là một hệ thống nuôi cấy mô hiện đại, cho phép nhân chồi với hệ số cao, tiết kiệm được không gian nuôi cấy, được sử dụng nhân giống trên nhiều đối tượng cây trồng như lan, kiểng lá, kiểng hoa. Hệ thống TIS tạo ra môi trường nuôi cấy thoáng khí, cây con khỏe mạnh, tỷ lệ sống sót cao, giảm chi phí nhân công, tiết kiệm và giảm chi phí môi trường nuôi cấy, tốc độ tăng trưởng của chồi nhanh nên thời gian nhân giống được rút ngắn. Hệ thống gồm 2 phần, phần trên chứa mẫu cấy, phần dưới chứa môi trường dinh dưỡng. Dưới tác động máy bơm, môi trường dinh dưỡng sẽ được bơm lên phần chứa mẫu cấy và cung cấp nguồn dinh dưỡng cũng như khí cho mẫu cấy, giúp mẫu cấy tiếp xúc với bề mặt môi trường. Nhờ vậy, cây sử dụng hiệu quả nguồn dưỡng chất được cung cấp nên việc nhân giống bằng phương pháp này cho hệ số nhân rất cao. Trong 1 bình nuôi cấy có thể chứa hơn 1.000 cây con, hiện hệ thống TIS đang được Trung tâm công nghệ sinh học TP.HCM ứng dụng rất hiệu quả trên lan hồ điệp. Công nghệ nhân giống lan bằng nuôi cấy mô Công nghệ này giúp cung cấp cây giống với số lượng lớn, chất lượng đồng đều, rút ngắn thời gian so với nhân giống bằng phương pháp vô tính bên ngoài. Công tác nhân giống in vitro Là một phương pháp nhân nhanh cây giống, kỹ thuật này giúp sản xuất hàng loạt cây giống mang đặc tính di truyền giống nhau và đạt chất lượng cao. Trong những năm qua, Trung tâm công nghệ sinh học TP.HCM đã tiến hành nghiên cứu hoàn thiện nhiều quy trình nhân giống trên các giống lan như Dendrobium, Cattleya, Mokara, Renanthera, Phalaenopsis, Rhynchostylis đưa vào sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu cây giống cho thị trường. Đồng thời, Trung tâm công nghệ sinh học TP.HCM cũng tiến hành nhân giống các loại hoa kiểng có giá trị như dạ yên thảo, hoa chuông. Ngoài Trung tâm công nghệ sinh học TP.HCM, hiện nay tại TP.HCM còn có các đơn vị như Trung tâm nghiên cứu và phát triển nông nghiệp công nghệ cao, Trường đại học khoa học tự nhiên, Đại học nông lâm, Đại học Tôn Đức Thắng TP.HCM cũng đã nghiên cứu thành công trong việc nhân giống in vitro trên một số loại hoa kiểng như: lan Mokara, lan sò, cây mào gà, hoa hồng mini, hướng dương. Gần đây, công tác chọn tạo, nhân giống các loại hoa mới, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng trong và ngoài nước, đã bắt đầu được chú trọng. Theo nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây, Rau & Hoa (Viện KHKTNNMN), công tác chọn tạo giống mới các loại hoa cắt cành (cúc, hồng, đồng tiền, cẩm chướng, lay-ơn) đã hoàn toàn có thể được tiến hành tại Việt Nam. Riêng tại Trung tâm này, đã tiến hành lai tạo được vài giống rất có triển vọng, được Bộ NN&PTNT công nhận tạm thời nhằm đưa vào sản xuất, như: giống hoa cúc C05.1 và C05.3, hoa đẹp, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng, tỷ lệ đồng đều cao, có khả năng thích ứng cao, kháng bệnh gỉ sắt tốt; giống đồng tiền G04.6 có năng suất cao và ổn định, hoa đẹp (đỏ tươi với nhuỵ đen), phù hợp thị hiếu người tiêu dùng, kháng được bệnh nấm cổ hoa, có khả năng thích ứng với điều kiện sản xuất cao. 3.Nhóm chế phẩm sinh học ứng dụng cho phòng trừ sâu bệnh. Spoiler: click to toggle Thuốc trừ sâu Chất ABAMECTIN và EMAMECTIN Là các chất được chiết xuất trong môi trường nuôi cấy loài nấm Streptomyces avermitilis. Hai chất này có cấu tạo hóa học và tính chất gần giống nhau, trong đó Emamectin có hiệu lực diệt sâu mạnh hơn. Thuốc có tác động diệt sâu qua đường tiếp xúc, vị độc và có khả năng thấm sâu, hiệu lực diệt sâu nhanh và mạnh không thua kém thuốc hóa học. Do hiệu lực mạnh nên lượng hoạt chất sử dụng rất thấp, chỉ từ 3-5 g/ha, trong đó Emamectin mạnh hơn Abamectin. Thuốc có phổ tác dụng rộng, phòng trừ được nhiều loại sâu miệng nhai, sâu chích hút và nhện hại cho nhiều loại cây trồng, đặc biệt sử dụng cho rau, hoa cảnh, các cây ăn quả và cây công nghiệp có giá trị cao. Ở nước ta hiện nay các hoạt chất trên được đăng ký với nhiều tên thương mại của nhiều đơn vị và được sử dụng rất phổ biến, trong đó có các thuốc Đầu Trâu Bi-sad, Đầu Trâu Merci, Proclaim… Thuốc Đầu Trâu Bi-sad 0,5ME chứa 0,5% Emamectin dưới dạng siêu nhũ, dùng phòng trừ rầy nâu, sâu cuốn lá lúa, sâu tơ bắp cải, sâu vẽ bùa cam… pha liều lượng 10-15ml/10l nước, hiệu lực diệt sâu sau 1 ngày đã đạt trên 75%.
Hỗn hợp ABAMECTIN + DẦU KHOÁNG Dầu khoáng có tác dụng bít lỗ thở làm sâu ngạt thở mà chết, ngoài ra còn xua đuổi sâu trưởng thành không đến đẻ trứng và làm ung trứng. Chế phẩm dầu khoáng dùng hòa nước phun lên cây để trừ sâu (gọi là Petroleum Spray Oil) ngày càng sử dụng phổ biến. Đặc biệt trong phương pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây có múi, dầu khoáng được coi là sản phẩm chủ lực ở nhiều nước. Dầu không độc hại với người và môi trường. Chất Abamectin hỗn hợp với dầu khoáng làm tăng hiệu lực diệt sâu do tác động bổ sung và khả năng loang trải, bám dính tốt của dầu, cũng được dùng để phòng trừ các loại sâu miệng nhai, sâu chích hút và nhện hại cho nhiều loại cây trồng. Thuộc nhóm này có các chế phẩm Đầu Trâu Bihopper, Feat… Thuốc Feat 25EC chứa 0,5% chất Abamectin và 24,5% dầu khoáng, dùng phòng trừ bọ trĩ hại dưa hấu, dưa leo, dòi đục lá cà chua, nhện đỏ cam, quýt… pha liều lượng 12-15ml/10l nước. Cây cam, quýt được phun thuốc Feat cho trái bóng đẹp và chất lượng tốt hơn rõ rệt. Nhóm THUỐC THẢO MỘC Đáng chú ý là các chất Matrine (từ cây khổ sâm), Azadirachtin (từ cây Neem, là một loài xoan ở Ấn Độ), Rotenone (từ cây thuốc cá). Từ lâu con người đã biết dùng thuốc thảo mộc để trừ sâu nhưng gần đây do nhu cầu sử dụng ngày càng tăng cùng với các tiến bộ về công nghệ, các chất có nguồn gốc thảo mộc trừ sâu ngày càng được phát triển nhanh. Các chất này cũng có hiệu lực diệt sâu nhanh, phổ tác dụng rộng, phòng trừ nhiều loại sâu hại cho nhiều loại cây trồng. **Thuốc trừ bệnh Trong số các thuốc trừ bệnh cây tác động theo cơ chế kích kháng hiện nay đáng chú ý là chất Chitosan (còn gọi là oligo - sacarit). Chitosan là một chất hữu cơ cao phân tử được điều chế từ vỏ tôm, cua và một số loài rong biển. Ngoài tác dụng kích thích hoạt động của hệ thống kháng bệnh trong cây, Chitosan còn có tác dụng như một chất kích thích sinh trưởng của cây và trực tiếp tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh do hủy hoại màng tế bào vi sinh vật. Với các tác dụng trên, Chitosan phòng trừ được các bệnh cây do các nhóm vi sinh vật như nấm, vi khuẩn, tuyến trùng và cả virút. Có thể coi Chitosan như một loại vắc-xin thực vật. Còn đây là bài world của tụi mình http://www.mediafire.com/?dc3x1ks56w9wo42
|