- Trang chủ
- →
- Công nghệ Sinh học Thực phẩm
- →
- Đại Học Thực Phẩm 5
- →
- 12. Ứng dụng CNSH trong bón phân và xử lý bệnh cho cây ăn lá
- →
- nội dung 2

| Chào mừng các bạn đến với Forum của tôi. Hiện tại bạn đang là khách của forum. Điều này sẽ giới hạn bạn trong việc sử dụng các chức năng. Nếu muốn, bạn có thể đăng ký thành viên. (member). Quá trình đăng ký rất đơn giản, nhanh chóng và hoàn toàn miễn phí. Bạn hãy lưu ý về các quy định chung để không bị khóa nick. Join our community! Nếu bạn đã là thành viên, vui lòng đăng nhập (log in): |
| nội dung 2; chương 2 | |
|---|---|
| Tweet Topic Started: Feb 25 2012, 07:20 PM (1,429 Views) | |
| DHTP5-N2-NG.TH.QUYNHNHU-O9219631 | Feb 25 2012, 07:20 PM Post #1 |
|
CHƯƠNG II: ỨNG DỤNG CNSH TRONG BÓN PHÂN CHO CÂY ĂN LÁ Spoiler: click to toggle Rau ăn lá là loại cây ngắn ngày nhưng cho khối lượng sản phẩm khá lớn. Do vậy, để tạo ra một sản lượng lớn cây trồng đã lấy đi từ đất một lượng dinh dưỡng tương ứng. Lượng dinh dưỡng cây lấy từ đất là do quá trình phân giải của vi sinh vật cung cấp, phần lớn còn lại thông qua con đường phân bón. Khi bón phân cho rau cần lưu ý bón đúng lượng, đúng loại, đúng thời điểm, đúng cách. 2.1. Những lưu ý khi bón phân cho rau ăn lá Spoiler: click to toggle Phân bón cho rau nên dùng nhiều phân hữu cơ ủ hoại để tăng độ mùn, độ phì nhiêu của đất. Nông dân có thể tận dụng phân gia súc, cây xanh, phế phẩm nông nghiệp ủ với EM hoặc nấm Trichoderma làm phân hữu cơ. Phân chuồng tươi gồm có phân trâu, bò, ngựa, lợn, phân bắc (phân người), phân gia cầm và phân các loại vật nuôi khác là loại phân bón tốt cung cấp mùn, các loại khoáng đa, vi lượng cho cây, bồi bổ đất tơi xốp, nhưng nếu bón phân tươi hoặc nước dải, nước phân chuồng tươi rất bẩn, nhiều trứng giun sán, vi sinh vật gây bệnh sẽ bám vào rau, quả gây bệnh trực tiếp cho cây rau và cho người sử dụng. Loại phân này cần ủ hoai mục bằng cách trộn đều với 2-5% supe lân, chất đống, nén chặt trát kín bùn đất bên ngoài trong khoảng 2 tháng, nhờ có vi sinh vật yếm khí hoạt động nhiệt độ trong đống phân ủ tăng lên 70-800C, nhiều loại trứng giun sán và vi trùng gây bệnh bị tiêu diệt. các chất dinh dưỡng khó tiêu sẽ được vi sinh vật phân giải thành dạng dễ tiêu, phân tơi xốp không còn mùi hôi đem bón cho rau an toàn rất tốt. Không nên dùng nước thải sinh hoạt chưa xử lý để tưới cho rau. -Nước và mùn bã các bể khí sinh học Biogas thải ra là loại phân hữu cơ đã được vi sinh vật yếm khí phân giải dùng bón cho rau an toàn rất tốt.. -Trong canh tác rau ăn lá, phân hữu cơ chiếm một vai trò rất quan trọng. Ngoài việc cung cấp các chất dinh dưỡng đa lượng NPK cho cây, phân hữu cơ còn là nguồn cung cấp các nguyên tố vi lượng mà cây trồng không thể thiếu trong quá trình phát triển và tạo năng suất như Bo, mangan, coban, kẽm, molipden…Phân hữu cơ còn đóng một vai trò quan trọng khác là làm tơi xốp đất, tăng độ mùn, góp phần cải tạo đất, giữ ẩm cho đất trong mùa khô. Khi gia tăng hàm lượng mùn, chúng kết hợp với các loại phân hoá học khi bón vào đất, giảm sự thất thoát phân bón và tăng hiệu suất sử dụng của phân bón. Phân hữu cơ nên trộn với phân lân và phân kali bón lót cho ruộng rau, bón xong rồi cày đất hoặc bón theo luống. Một năm bón cho 1ha khoảng 20 tấn phân hữu cơ, 500kg phân supe lân hoặc lân nung chảy, 250-300 kg phân kali. Bón một lần hoặc chia làm hai lần trong năm vào lúc thuận tiện nhất, làm như vậy đất sẽ tơi xốp và có dự trữ lân, kali, lưu huỳnh, magie và các chất dinh dưỡng khác. -Cây rau có thể hút các chất điều hoà sinh trưởng và chất dinh dưỡng qua lá, nên dùng biện pháp này có thể tăng năng suất rau, song các chất điều hoà sinh trưởng là các hoá chất có thể gây độc cho người và gia súc. Các chất này lúc thu hoạch có khi vẫn bám trên mặt lá, không rửa kỹ sẽ rất có hại. - Không nên dùng bất kỳ loại phân phun lá nào cho các loại rau ăn. 2.2. Vai trò của vi sinh vật trong tuần hoàn vật chất trong đất Spoiler: click to toggle Vi sinh vật (VSV) được phát hiện từ thế kỷ 17 bởi các nhà khoa học châu Âu. Đến thế kỷ 19, khởi đầu bằng bằng chế phẩm vi sinh cố định nitơ phân tử, ngành công nghệ vi sinh ngày càng phát triển mạnh mẽ. Từ 1964, hàng loạt chế phẩm vi sinh vật được nghiên cứu sản xuất: các chế phẩm VSV cố định đạm, chế phẩm VSV phân giải cellulose, chế phẩm VSV phân giải lân, chế phẩm VSV đa chức năng và nhiều loại chế phẩm VSV xử lý môi trường đất, bảo vệ thực vật được ứng dụng rộng rãi. Vi sinh vật có thể sống được ở khắp nơi, nhưng tập trung nhiều nhất ở trong đất. Hệ vi sinh vật đất rất phong phú về chủng loại cũng như số lượng, bao gồm 4 nhóm chính là vi khuẩn, xạ khuẩn, nấm, vi khuẩn lam và tảo. Đặc điểm chung của VSV là kích thước rất nhỏ, khả năng hấp thụ và chuyển hóa vật chất mạnh, tốc độ sinh sản rất nhanh. Trong 1 gam đất trồng trọt có tới 104-107 VSV khác nhau, trong đó tỷ lệ VSV có ích chiếm đại đa số. Hầu như mọi hoạt động tuần hoàn vật chất trong đất đều có sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của VSV hình thành nên độ phì nhiêu đất, tăng năng suất và chất lượng nông sản: cố định nitơ phân tử, chuyển hóa cacbon, phân giải xenlulo, phân giải lân, kali, lưu huỳnh, chuyển hóa sắt, nhôm, mangan,… Ngoài ra, các hoạt động VSV trong đất còn sản sinh ra hàng loạt các sản phẩm sinh học có giá trị như vitamin, chất kích thích sinh trưởng, enzyme, chất kháng sinh có tác dụng làm tăng khả năng sinh trưởng phát triển của thực vật và tham gia phòng chống sâu bệnh hại. 2.3.Chế phẩm sinh học Spoiler: click to toggle Hiện nay nhiều chế phẩm vi sinh làm phân bón được sản xuất theo nhiều hướng khác nhau, nhiều dạng khác nhau phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, công nghệ. Thành phần vi sinh vật trong các chế phẩm làm phân hữu cơ ở mỗi cơ sở sản xuất khác nhau. Có hai dạng chế phẩm chủ yếu là chế phẩm nấm (ít phổ biến hơn do khó bảo quản và dễ bị nhiễm tạp) và các chế phẩm vi khuẩn rất phổ biến trên thị trường. Hiện nay các chế phẩm vi khuẩn được sản xuất theo nhiều dạng với những ưu nhược điểm khác nhau: dạng trên môi trường thạch, dạng dịch thể, dạng khô, dạng đông khô, nhưng phổ biến nhất hiện nay trên thế giới là dạng bột chất mang. VSV được tẩm vào chất mang, cư ngụ và được bảo vệ chức năng chuyên tính cho đến khi sử dụng. Nguồn chất mang có thể dùng là than bùn, bã mía, bột xenlulo hoặc rác thải hữu cơ nghiền (Đông Nam Á), hoặc bentonit với bột cá (Ấn Độ), còn ở Mỹ hiện nay sử dụng bột Polyacrylamit. Việt Nam đang sử dụng các chất mang phổ biến là than bùn, mùn mía, cám trấu,… Trên thế giới, một số chế phẩm VSV đang được sử dụng phổ biến và hiệu quả gồm: -Chế phẩm VSV cố định đạm: có các dạng VSV tự do và hội sinh (vi khuẩn Azotobacter, Beijerrinskii, Clostridium,…), chế phẩm cố định nitơ phân tử cộng sinh với cây họ đậu có hoạt tính Nitrozenaza (các loài vi khuẩn Rhizobium), các chế phẩm vi khuẩn hảo khí, yếm khí, xạ khuẩn và nấm. Các chủng VSV này phải được tuyển chọn kỹ lưỡng bảo đảm chúng có cường độ cố định nitơ cao, sức cạnh tranh lớn và tính thích ứng rộng trước khi nhân sinh khối. Vi khuẩn nốt sần đã được sản xuất công nghiệp và trở thành hàng hóa ở châu Âu, Nam Mỹ và Úc. Năm 2000 giá trị hàng hóa của phân vi khuẩn nốt sần trên thế giới đạt khoảng 50 triệu USD, trong đó Mỹ là quốc gia có lượng sử dụng lớn nhất với giá trị là 20 triệu USD. Tại Ấn Độ, phân vi khuẩn nốt sần đã giúp tăng năng suất cây đậu đỗ trung bình tới 13,9% và mang lại lợi nhuận 1.204 Rupi/ha. Ở Đông Nam Á, Thái Lan là nước sử dụng phân vi khuẩn nốt sần nhiều nhất. Thông qua việc sử dụng phân vi khuẩn nốt sần trong giai đoạn 1980-1993, Thái Lan đã tiết kiệm được 143.828 tấn urê. Lợi nhuận của việc nhiễm khuẩn cho đậu phộng mang lại cho mỗi ha là 78,5 USD. Nhiễm khuẩn cho cây bộ đậu không đắt, đầu tư kỹ thuật thấp nhưng mang lại hiệu quả kinh tế cao và đặc biệt quá trình tổng hợp đạm sinh học này không gây ô nhiễm môi trường, nâng cao độ phì đất cải thiện môi trường sinh thái. Ở Việt Nam các kết quả nghiên cứu cho thấy vi sinh vật cố định đạm làm giàu cho đất từ 50-100 kg N/ha/năm, có thể thay thế được 20-60 kg Urê/ha, giảm tỷ lệ sâu bệnh từ 25-50%. Kết quả nghiên cứu gần đây của Viện KHKTNN miền Nam cho thấy chỉ cần bón 10 kg N/ha năng suất tương đương với bón 50 đến 60N trên cùng một điều kiện canh tác. - Chế phẩm EM (Effective Microorganisms) của Đại học Ryu Kyu, Nhật Bản gồm 80 loài VSV thuộc các giống Lactobacillus, Acetobacter, xạ khuẩn, nấm men, vi khuẩn quang hợp,…có nguồn gốc tự nhiên. Các VSV này có mối quan hệ tương hỗ thích hợp với nhau về sinh lý và cùng sống chung trong một môi trường nhân tạo không vô trùng. Tác dụng của EM là cải thiện môi trường lý hóa sinh của đất, tiêu diệt tác nhân gây bệnh, tăng khả năng quang hợp của cây, tăng khả năng sinh trưởng phát triển của thực vật và tham gia cải tạo môi trường. - Các chế phẩm EM Bokasshi để phân hủy mụn xơ dừa làm phân bón hữu cơ sinh hóa, chế phẩm Zymplex ủ hiếu khí với phân chuồng đạt hiệu quả cao, thời gian ủ nhanh. - Chế phẩm sinh học nấm đối kháng Trichoderma hiện nay đang được ứng dụng rất rộng rãi trong công nghệ sản xuất phân hữu cơ sinh học hiện nay ở Việt Nam. Phân hữu cơ sinh học có phối trộn thêm nấm đối kháng Trichoderma là lọai phân có tác dụng rất tốt trong việc phòng trừ các bệnh vàng lá chết nhanh, còn gọi là bệnh thối rễ do nấm Phytophthora palmirova gây ra. Hay bệnh vàng héo rũ hay còn gọi là bệnh héo chậm do một số nấm bệnh gây ra: Furasium solari, Pythium sp, Sclerotium rolfosii….Chế phẩm sinh học nấm đối kháng Trichoderma ngòai tác dụng sản xuất phân bón hũu cơ sinh học, hay sử dụng như một lọai thúôc BVTV thì còn có tác dụng để xử lý ủ phân chuồng, phân gia súc, vỏ cà phê, chất thải hũu cơ như rơm, rạ, rác thải hữu cơ rất hiệu quả. Chế phẩm sinh học BIMA ( có chứa Trichoderma ) của Trung Tâm Công nghệ Sinh học TP. Hồ Chí Minh, chế phẩm Vi-ĐK của Công ty thuốc sát trùng Việt Nam … đang được nông dân TP. Hồ Chí Minh và khu vực Đồng bằng Sông Cửu long, Đông nam bộ sử dụng rộng rãi trong việc ủ phân chuồng bón cho cây trồng. - Các chế phẩm của Viện Sinh học nhiêt đới như BIO-F, chế phẩm chứa các vi sinh vật do nhóm phân lập và tuyển chọn: xạ khuẩn Streptomyces sp., nấm mốc Trichoderma sp. và vi khuẩn Bacillus sp. Những vi sinh vật trên có tác dụng phân huỷ nhanh các hợp chất hữu cơ trong phân lợn, gà và bò (protein và cellulose), gây mất mùi hôi. Trước đó, chế phẩm BIO-F đã được sử dụng để sản xuất thành công phân bón hữu cơ vi sinh từ bùn đáy ao, vỏ cà phê và xử lý rác thải sinh hoạt. -Chế phẩm sinh học EMC Các vi sinh vật hữu hiệu: Bacillus subtilis, Lactobacillus acidophillus, Saccharomyces cerevisae, Streptomyces sp > 5.107cfu/ml. Chế phẩm sinh học EMC Sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh từ than bùn: Trộn đều một gói chế phẩm sinh học (150g) cho một tấn than bùn có độ ẩm 45% (có thể bổ sung thêm 10- 30% mùn mía, mùn từ nhà máy giấy, mùn từ nhà máy thuốc lá…), bổ sung từ 1- 3% rỉ đường, che đậy để tránh mất nhiệt, ủ 15- 20 ngày, sau đó có trộn thêm lượng N, P, K tuỳ thuộc nhà sản xuất. - Chế phẩm sinh học Xử lý rác thải làm phân bón hữu cơ vi sinh: Hoà một gói chế phẩm sinh học (150g) vào nước, tưới đều cho 1 tấn rác, sao cho độ ẩm đạt 45- 50%, ủ đống và che đậy đống ủ, sau 10- 15 ngày có đảo trộn. ủ thêm 25- 30 ngày, mùn ủ được sử dụng làm phân bón. Có thể trộn thêm lượng N, P, K tuỳ thuộc nhà sản xuất. -Chế phẩm sinh học giữ ẩm cho đất 10/1/2007 Chế phẩm sinh học giữ ẩm cho đất có tên là Lipomycin-M do Viện Công nghệ Sinh học thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam nghiên cứu và sản xuất. Thành phần chính của Lipomycin-M là chủng nấm men Lipomyces PT7.1 được phân lập từ vùng đất trống đồi trọc ở huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. Chế phẩm này có khả năng tạo màng nhầy trong điều kiện đất khô hạn, giúp giảm thoát nước nên hỗ trợ tốt cho việc phủ xanh đất trống đồi trọc. Đây được xem là một giải pháp bền vững cho môi trường sinh thái. 2.4.Phân hữu cơ sinh học Spoiler: click to toggle Khái niệm về phân hữu cơ sinh học: Là sản phẩm phân bón được tạo thành thông qua quá trình lên men vi sinh vật các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc khác nhau, có sự tác động của vi sinh vật hoặc các hợp chất sinh học được chuyển hóa thành mùn. Trong lọai phân này có đầy đủ thành phần là chất hữu cơ, có phối chế thêm tác nhân sinh học ( vi sinh, nấm đối kháng ) bổ sung thêm thành phần vô cơ đa lượng ( NPK ) và vi lượng. Tuỳ thuộc vào nhu cầu của sản xuất mà có thể cân đối phối trộn các loại phân nguyên liệu sao cho cây trồng phát triển tốt nhất mà không cần phải bón bất kỳ các loại phân đơn nào. Phân phức hợp hữu cơ sinh học có thể dùng để bón lót hoặc bón thúc. Loại phân này có hàm lượng dinh dưỡng cao nên khi bón trộn đều với đất. Nếu sản xuất phù hợp cho từng loại cây trồng thì đây là loại phân hữu cơ tốt nhất. Hiện nay, đa số các doanh nghiệp sản xuất phân hữu cơ ứng dụng công nghệ ủ lên men vi sinh vật trong sản xuất phân hữu cơ sinh học (HCSH). Do nhu cầu sử dụng phân hữu cơ ngày càng cao trong khi lượng phân chuồng không đáp ứng được nên các sản phẩm phân HCSH ngày càng phổ biến trên thị trường và đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Tuy nhiên cũng phải thừa nhận rằng một số nhà sản xuất còn chưa thực hiện đủ một số công đoạn trong quy trình sản xuất, đặc biệt là khâu hoạt hóa than bùn (vốn rất chua), vì vậy hiệu lực phân bón giảm, thậm chí cón làm chua hóa môi trường đất. Phân có tác dụng: 1. Bổ sung hàm lượng mùn hữu cơ cho đất cho đất tơi xốp, rễ và củ của cây phát triểm mạnh. 2. Hàm lương Axits Humic và Fulvic và các Enzim có trong phân bón thúc đẩy quá trình hấp thụ và chuyển hóa dinh dưỡng cho cây trồng. 3. Cải tạo đất cằn, đất chai cứng hoặc thoái hóa, hạn chế xói mòn hoặc rửa trôi đối với các vùng đất đồi, dốc. Cân đối được hàm lượng dinh dưỡng ( Hữu cơ + Vô cơ ) cho cây. Nguyên liệu sản xuất: Rác thải hữu cơ: các loaị rác thải hữu cơ trong sinh hoạt có thể phân hủy được. Than bùn đã được hoạt hoá:bùn có ở khắp các nơi như cống rãnh, mương, hồ, ... Phế phẩm nông nghiệp-công nghiệp: Rác phế thải có nguồn gốc từ thực vật: lá cây, vỏ của các loại lương thực như vỏ dừa, vỏ trấu, vỏ cà phê, phân chuồng,... rỉ đường, phế thải của các quy trình sản xuất công nghiệp như sản xuất bia, thức ăn gia súc, thực phẩm,... Quặng apatit hay phosphorit nghiền nhỏ Chế phẩm sinh học Chất xúc tác sinh học 1.Phân ủ phân hữu cơ từ phế thải nông nghiệp. -Ủ ở những nơi thuận tiện cho việc sử dụng, có nền đất nện, khô ráo. -Nên ủ phế thải khô như rơm rạ, rác lá nên tưới ẩm trước khi ủ ít nhất 12 giờ để nước ngấm vào làm mềm nguyên liệu. -Kích thước nguyên liệu càng nhỏ càng tốt. -Sử dụng 1 gói chế phẩm sinh học EMC (150g) cho 1 tấn nguyên liệu. -Hoà chế phẩm sinh học EMC vào nước, lượng nước phụ thuộc vào độ ẩm của nguyên vật liệu ủ, làm sao để khi ủ, nguyên vật liệu đạt độ ẩm 50%. Nên bổ sung thêm 1- 3% rỉ đường. - Rải phân rác thành từng lớp trong luống ủ có chiều rộng khoảng 2m, chiều dài tuỳ theo lượng rác nhiều hay ít. Độ cao mỗi lớp khoảng 25- 30 cm. Ta tưới chế phẩm sinh học đã hòa vào đều từng lớp, sao cho độ ẩm đạt 50%. Cách kiểm tra độ ẩm khi ủ: Nếu thấy nước ngấm đều trong rác nguyên liệu và khi cầm vào thấy mềm là đạt độ ẩm cần thiết. Tiếp tục rải cho đến khi chiều cao của đống ủ khoảng 1,2- 1,5m. - Sau khi ủ xong, ta cho đậy đống ủ bằng bao tải dứa, rơm rạ hoặc mái lợp. Vào mùa đông, cần phải che đậy kỹ để nhiệt độ đống ủ được duy trì ở mức 400 C. - Nhiệt độ đống ủ sẽ tăng lên cao trong vòng một tuần. Sau 10- 15 ngày kiểm tra và đảo trộn, nếu đống ủ khô thì phải phun thêm nước. - Tuỳ theo loại nguyên liệu mà thời gian ủ khác nhau. Phế thải nông nghiệp, phân chuồng thường ủ 25- 30 ngày. Những phế thải nông nghiệp khác như lá mía, lõi thân cây ngô… thì thời gian ủ dài hơn. 2.Phân ủ compost Nguồn nguyên liệu ủ compost: Chủ yếu là rác thải sinh hoạt ở các hộ gia đình. Quy trình sản xuất phân compost: -Cắt các phế thải hữu cơ ngăn khoảng (5 – 8 cm) -Làm ẩm và đưa vào các hố ủ -Bổ sung 5kg ure, 5kg lân supe hoặc nung chảy cho 1 tấn nguyên liệu, 750 ml sinh khối VSV sau 10 ngày nuôi cấy được hoà vào 30 lit nước và trộn đều với khối nguyên liệu. 3.Phân hữu cơ - than bùn, phân dơi, tro Phân than bùn: Đây là loại phân bón được sản xuất từ than bùn kết hợp bột kích hoạt vi sinh, sau đó được ủ lên men trên công nghệ mới để tạo ra những quần thể sinh vật có ích. Khi bón vào đất, những vi sinh này phát triển và xâm nhập vào bộ rễ, tác động tổng hợp lên cây trồng, đồng thời chuyển hóa hàm lượng lân khó tiêu có sẵn trong đất thành lân rễ tiêu cung cấp cho cây trồng. Bên cạnh đó, loại phân bón này còn có tác dụng, hạn chế sâu bệnh, cải tạo đất, làm cho đất tơi xốp, giúp cây trồng hấp thụ tối đa chất dinh dưỡng, chống ô nhiễm môi trường, tạo ra sản phẩn nông nghiệp an toàn. Than bùn cho phản ứng chua. Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong than bùn thay đổi tuỳ thuộc vào thành phần các loài thực vật và quá trình phân huỷ các chất hữu cơ. Số liệu phân tích than bùn ở một số địa điểm có than bùn miền Đông Nam Bộ thu được như sau: Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong than bùn ở miền Đông Nam Bộ % chất dinh dưỡngĐịa điểm lấy than bùn Tây NinhCủ ChiMộc HóaDuyên Hải N0,380,090,16 – 0,910,64 P2O50,030,1 – 0,30,160,11 K2O0,370,1 – 0,50,310,42 pH3,43,53,22,6 Than bùn có hợp chất bitumic rất khó phân giải. Nếu bón trực tiếp cho cây không những không có tác dụng tốt mà còn làm giảm năng suất cây trồng. Vì vậy, than bùn muốn dùng làm phân bón phải khử hết bitumic Trong than bùn có axit humic, có tác dụng kích thích tăng trưởng của cây. Hàm lượng đạm tổng số trong than bùn cao hơn trong phân chuồng gấp 2 – 7 lần, nhưng chủ yếu ở dưới dạng hữu cơ. Các chất đạm này cần được phân huỷ thành đạm vô cơ cây mới sử dụng được. Để bón cho cây, người ta không sử dụng than bùn để bón trực tiếp. Thường than bùn được ủ với phân chuồng, phân rác, phân bắc, nước giải, sau đó mới đem bón cho cây. Trong quá trình ủ, hoạt động của các loài vi sinh làm phân huỷ các chất có hại và khoáng hoá các chất hữu cơ tạo thành chất dinh dưỡng cho cây. Chế biến than bùn thành các dạng phân bón khác nhau được thực hiện trong các xưởng. Thông thường quá trình chế biến thông qua các công đoạn sau đây: Dùng tác động của nhiệt để khử bitumic trong than bùn. Có thể phơi nắng một thời gian để Ôxy hoá bitumic. Có thể hun nóng than bùn ở nhiệt độ 70oC. Dùng vi sinh vật phân giải than bùn. Sau đó trộn với phân hoá học NPK, phân vi lượng, chấtkích thích sinh trưởng, tạo thành loại phân hỗn hợp giàu chất dinh dưỡng. Hiện nay, ở nước ta có nhiều xưởng sản xuất nhiều loại phân hỗn hợp trên cơ sở than bùn. Trên thị trường có các loại phân hỗn hợp với các tên thương phẩm sau đây: Biomix (Củ Chi), Biomix (Kiên Giang), Biomix (Plây Cu), Biofer (Bình Dương), Komix (Thiên Sinh), Komix RS (La Ngà), Compomix (Bình Điền II), phân lân hữu cơ sinh học sông Gianh và nhiều loại phân lân hữu cơ sinh học ở nhiều tỉnh phía Bắc. Phân tro, phân dơi: Tro các loại được sử dụng làm phân bón rất có hiệu quả ở những loại đất thiếu kali hoặc trong trường hợp bón quá nhiều phân đạm. Trong tro có 1 – 30% K2O và 0.6 – 19% P2O5. Tro có thể dùng bón trực tiếp cho cây hoặc dùng làm chất độn, chất trộn với phân chuồng, phân bắc, nước tiểu… Kali trong tro dễ hoà tan. Trong tro còn có silic, lân, magiê, vi lượng với hàm lượng tương đối cao. Tro có tính kiềm nên phát huy tác dụng tốt trên các loại đất chua. Phân dơi có hàm lượng lân rất cao. Nhiều gia đình nông dân đã vào các hang động trong núi đá, thu gom phân dơi về bón ruộng, bón cho cây trồng và đã thu được kết quả tốt. Nhiều hộ nông dân đã nuôi dơi để lấy phân bón ruộng. 2.5.Phân hữu cơ vi sinh vật: Spoiler: click to toggle Định nghĩa: Phân bón hữu cơ vi sinh vật ( tên thường gọi: phân hưũ cơ vi sinh ) là sản phẩm được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu hữu cơ khác nhau, nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, cải tạo đất, chứa một hay nhiều chủng vi sinh vật sống được tuyển chọn với mật độ đạt tiêu chuẩn qui định, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản. Phân hữu cơ vi sinh vật không gây ảnh hưởng xấu đến người, động vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản. Trên thế giới, các loại phân hữu cơ vi sinh được sử dụng ngày càng nhiều do làm tăng năng suất, giảm chi phí phân khoáng, cải thiện độ phì nhiêu đất và đặc biệt làm tăng chất lượng nông sản. Ở những nước có nền nông nghiệp tiến bộ, xu hướng hiện nay là sử dụng những loại phân vừa có hàm lượng hữu cơ cao vừa chứa nhiều chủng VSV có ích để đồng thời giải quyết được nhiều mục tiêu trong nền nông nghiệp hiện đại. Ở Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Úc đã nghiên cứu sản xuất được những loại phân hữu cơ vi sinh cao cấp, thành phần chính ngoài chất hữu cơ có chất lượng cao, nhiều chủng VSV có ích còn giàu dinh dưỡng (NPK, trung lượng, vi lượng). Quy trình sản xuất phân hữu cơ vi sinh vật: Các phế thải hữu cơ được cắt ngắn khoảng 5-8 cm làm ẩm và đưa vào các hố ủ có bổ sung 5kg ure, 5 kg lân supe cho 1 tấn nguyên liệu. 750 ml sinh khối vi sinh vật sau 10 ngày nuôi cấy được hòa vào 30 lit nước và trộn đều với khối nguyên liệu., sau đó khi nhiệt độ khối ủ ổn định ở mức 30 0c người ta bổ sung vi sinh vật có ích khác vào khối ủ. Đó là vi sinh vật cố định nito (Azobacteria), vi khuẩn nấm hoặc nấm sợi phân giải phosphat khó tan (Bacillus polymixa, Pseudomonas, …). Ngoài ra có thể bổ sung 1% quặng Phosphat vào khối ủ cùng với sinh khối vi sinh vật. Để đảm bảo oxy hóa cho vi sinh vật hoạt động và quá trình chế biến được nhanh chóng nên đảo trộn khối ủ 20 ngày 1 lần. Thời gian chế biến kéo dài khoảng 1 đến 4 tháng tùy thành phần của loại nguyên liệu. Sản phẩm phân hữu cơ vi sinh dạng này không chỉ có hàm lượng mùn tổng số mà còn có hàm lượng nito tổng số cao hơn loại phân hữu cơ chế biến bằng phương pháp chế biến 40-45%. Một số quy trình sản xuất phân hữu cơ vi sinh và sử dụng 1.Quy trình sản xuất phân hữu vi sinh được chế biến từ mụn xơ dừa Spoiler: click to toggle Mụn dừa là nguyên liệu để sản xuất phân hữu cơ vi sinh: Sau khi mụn dừa được sấy khô loại bỏ tạp chất có hại, áp dụng tiếp kỹ thuật vi sinh sẽ cho ra sản phẩm phân hữu cơ vi sinh, giúp cải tạo đất bạc màu một cách hiệu quả. CHẾ PHẨM VI SINH XỬ LÝ XƠ DỪA LÀM PHÂN BÓN 1. Men xử lý: - Tên sản phẩm: TRICHODERMA (dạng bột) - Thành phần: (vi sinh vật) Trichoderma spp.: 109 CFU/g Và các vi sinh vật có ích khác Mô tả quy trình: Nguyên liệu mụn xơ dừa sẽ được xử lý bằng Ca(OH)2 với liều lượng bằng 5% lượng mụn xơ dừa, với thời gian xử lý từ 7-10 ngày. Sau đó mụn xơ dừa sẽ được ép bằng máy ép thủy lực. Tiếp theo mụn xơ dừa sẽ được ủ háo khí với chế phẩm EM gốc với tỷ lệ 3 lít EM gốc xử lý 1 tấn mụn xơ dừa, thời gian ủ hảo khí là 10-15 ngày, ta đã có mụn dừa bán thành phẩm (MDA). Sau đó phơi trong mát mụn dừa bán thành phẩm (MDA) để giảm ẩm độ. Phối trộn nguyên liệu theo bảng sau: Bảng công thức phối trộn để sản xuất phân HCVS từ mụn dừa bán thành phẩm (MDA) Trên cây xà lách: Mật độ trồng: 10 kg hạt/ha Phân bón: tính cho 1.000m2 + Bón lót (trước khi gieo hạt): 1,0-1,5 tấn phân chuồng+100kg phân super lân + 50kg phân HCVS. Các bước: Làm đất-bón lót phân-phủ một lớp đất hoặc phân chuồng lên mặt-gieo hạt. + Tưới thúc (7-10 ngày sau khi trồng): hòa từ 3,0-3,5kg Urea với 40 lít nước. Có thể sử dụng thêm phân bón lá sau đó vài ngày. Trên cây cải xanh: Mật độ trồng: 5 kg hạt giống/ha. Vườn ươm: không cần thiết cung cấp phân, nếu cây con phát triển hơi kém có thể tưới thúc nhẹ 1 lần khoảng 10-15 ngày sau khi gieo bằng nước phân NPK 16-16-8 với liều lượng pha 20-30g/10 lít nước. Cây con 18-20 ngày tuổi là có thể cấy, cấy từng đợt riêng cây tốt và cây xấu để thuận tiện cho việc chăm sóc. 2. Phân phức hợp hữu cơ vi sinh được sản xuất từ phế thải của nhà máy đường theo công nghệ của FITOHOOCMON được Bộ Khoa học và công nghệ cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích về “Quy trình sản xuất phân phức hợp hữu cơ vi sinh”, như sau: - Giai đoạn lên men nguyên liệu: Nguyên liệu là bùn mía, tro lò, than bùn được lên men tạo thành mùn hữu cơ cao cấp - Giai đoạn phối trộn và cấy vi sinh vật hữu ích: Phối trộn theo công thức định sẵn tùy theo yêu cầu chất lượng phân và cấy VSV thuần khiết vào môi trường mùn hữu cơ. 3. Ở quy mô hộ gia đình cũng có thể sản xuất phân hữu cơ vi sinh có mật độ thấp nhưng vẫn đáp ứng được nhu cầu phân bón bằng cách tận dụng rác thải, phân chuồng ủ thành đống một thời gian thành mùn (phân compost), sau đó trộn với vi sinh để bón cho cây trồng. Tạo đống ủ bằng cách đào lỗ (nơi không ngập nước) hoặc khoanh liếp tre như ví lúa,..Nguyên liệu cần được chặt hoặc bằm, xay nhỏ càng tốt. Tưới dung dịch E.M (chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu) cho đều, thử độ ẩm thích hợp bằng cách bóp nguyên liệu ủ trong nắm tay vừa ướt, vón cục nhưng không chảy nước. Nén chặt và đậy đống ủ bằng bao bố cũ hoặc đậy lá chuối và dùng bùn phủ lên một lớp mỏng. Giữa đống ủ cắm một khúc cây để thăm dò nhiệt độ đống ủ, đồng thời để bổ sung ẩm (bù lượng nước hao hụt trong những ngày khô hạn). Khoảng một tháng có thể vỡ ra, trộn lại đống ủ và bổ sung dung dịch E.M, ủ tiếp (có thể thêm phân đạm, lân hòa với nước). Chế phẩm vi sinh vật hiện nay tương đối dễ tìm và rẻ là E.M có bán ở Viện Khoa học Nông nghiệp, các Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ,... Đối với các nguyên liệu có khả năng tạo thành chất chua như bả đậu, hèm rượu, thạch dừa hư,.. thì nhất thiết phải được bổ sung vôi để khử chua và hạn chế tạp khuẩn, đồng thời bổ sung chế phẩm vi sinh thường xuyên để phân huỷ nhanh và cạnh tranh với men tạp. Ở một số nơi, người ta còn ngâm các nguồn nguyên liệu hữu cơ giàu đạm trong nước (cá vụn, bánh dầu,..) để một thời gian tưới cho cây. Làm như vậy gây ô nhiễm môi trường vì mùi hôi, ruồi, dòi,..tác động xấu đến không khí xung quanh, làm dơ nguồn nước. Nên ngâm trong vật chứa kín và mỗi tháng pha với dung dịch EM bán trên thị trường tỷ lệ 1/1.000, nếu có thể sử dụng thêm chế phẩm protease (men phân huỷ protein) thì thời gian phân huỷ được rút ngắn và đạm trong nước tưới dễ tiêu hơn. Phân hữu cơ vi sinh thật gần gũi vì nguồn nguyên liệu hữu cơ luôn có chung quanh nhưng cũng thật lạ lẫm vì nguồn vi sinh khó tiếp cận! Không sao cả vì hiện nay các chế phẩm vi sinh ngày càng phổ biến như Tricoderma có hoạt tính xenlulaza cao (phân huỷ chất xơ), chế phẩm EM gồm 80 loài vi sinh vật có ích đang có bán ở nhiều nơi. 2.6.Phân vi sinh vật (phân vi sinh) Spoiler: click to toggle Định nghĩa: Phân bón vi sinh vật ( gọi tắt là phân vi sinh ) là sản phẩm chứa một hay nhiều chủng vi sinh vật sống, đã được tuyển chọn có mật độ đạt theo tiêu chuẩn hiện hành. Thông qua các hoạt động của chúng sau quá trình bón vào đất tạo nên các chất dinh dưỡng mà cây trồng sử dụng được ( N, P ,K,…) hay các hoạt chất sinh học, góp phần nâng cao năng xuất và ( hoặc) chất lượng nông sản. Phân vi sinh bảo đảm không gấy ảnh hưởng xấu đến người, động thực vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản. Mật độ vi sinh vật trong phân bón vi sinh là số lượng vi sinh vật trong một đơn vị khối lượng hay thể tích. ở Việt Nam mật độ vi sinh vật có ích phải đảm bảo từ 10^8-10^9 Phân bón vi sinh vật gồm nhiều loại khác nhau phụ thuộc vào công nghệ sản xuất, tính năng tác dụng của vi sinh vật chứa trong phân bón hoặc thành phần các chất tạo nên sản phẩm phân bón. Theo công nghệ sản xuất, người ta có thể phân chia phân bón vi sinh thành 2 loại: Phân vi sinh trên nền chất mang khử trùng có mật độ vi sinh vật hữu ích >10^9 CFU/gam (ml) và mật độ vi sinh vật tạp nhiễm thấp hơn 1/1000 so với vi sinh vật hữu ích và phân vi sinh trên nền chất mang không khử trùng được sản xuất bằng cách tẩm nhiễm trực tiếp sinh khối vi sinh vật sống đã qua tuyển chọn vào cơ chất không qua công đoạn khử trùng. Phân bón dạng này có mật độ vi sinh vật hữu ích >10^6 CFU/gam (ml) và được sử dụng với số lượng từ vài trăm đến vài nghìn kg (l)/ha. Dựa trên cơ sở tính năng tác dụng của các vi sinh vật sử dụng, phân bón vi sinh còn được gọi dưới các tên: Phân vi sinh cố định nitrogen (phân đạm vi sinh) ; phân vi sinh vật phân giải hợp chất phospho khó tan (phân lân vi sinh) ; phân vi sinh vật kích thích, điều hòa sinh trưởng thực vật và phân vi sinh vật chức năng. Căn cứ vào đặc tính cơ lý của phân bón, có thể chia phân vi sinh thành vi sinh vật dạng bột ; dạng lỏng ; dạng nhão và dạng viên. Ở Việt Nam, phân VSV cố định đạm cây họ đậu và phân VSV phân giải lân đã được nghiên cứu từ năm 1960 và đến năm 1987 phân Nitragin trên nền chất mang than bùn mới được hoàn thiện và đến năm 1991 đã có hơn 10 đơn vị trong cả nước tập trung nghiên cứu phân vi sinh vật. Các nhà khoa học đã phân lập được nhiều chủng vi sinh vật cố định đạm và một số VSV phân giải lân. Quá trình sản xuất phân vi sinh theo 2 giai đoạn chủ yếu: Giai đoạn 1: Tạo nguyên liệu cho sản xuất còn gọi là chất mang. Chất mang được dùng là các hợp chất vô cơ (bột photphorit, bột apatit, bột xương, bột vỏ sò,..) hay các chất hữu cơ (than bùn, bã nấm, phế thải nông nghiệp, rác thải,..). Chất mang được ủ yếm khí hoặc hiếu khí nhằm tiêu diệt một phần VSV tạp và trứng sâu bọ, bay hơi các hợp chất dễ bay hơi và phân giải phần nhỏ các chất hữu cơ khó tan. Giai đoạn 2: Cấy vào nguyên liệu trên các chủng vi sinh vật thuần khiết trong điều kiện nhất định để đạt được hiệu suất cao. Mặc dù VSV nhỏ bé nhưng trong điều kiện thuận lợi: đủ chất dinh dưỡng, có độ pH thích hợp, CO2 và nhiệt độ môi trường tối ưu chúng sẽ phát triển cực kỳ nhanh chóng (hệ số nhân đôi chỉ 2-3giờ); Ngược lại trong điều kiện bất lợi chúng sẽ không phát triển hoặc bị tiêu diệt, dẫn đến hiệu quả của phân bị giảm sút. Để cho phân vi sinh được sử dụng rộng rãi, người ta thường chọn các chủng vi sinh có khả năng thích nghi rộng hoặc dùng nhiều chủng trong cùng một loại phân. Như vậy, qui trình sản xuất phân vi sinh trước tiên là tạo thành phân mùn hữu cơ cao cấp. Tùy từng địa phương và cơ sở sản xuất cụ thể mà lựa chọn nguyên liệu để sản xuất phân hữu cơ cao cấp khác nhau như than bùn, mùn rác thành phố (phân rác lên men), phân bắc (hầm cầu), phân gà công nghiệp, phân heo, trâu, bò, dê,..hoặc phân từ nguồn phế thải của quá trình chế biến của các nhà máy như mía, mụn dừa, vỏ trái cây, .. Nói chung là đi từ nguyên liệu nào có thể biến thành mùn. Sau đó là quá trình phối trộn, cấy các chủng vi sinh vào mùn. Spoiler: click to toggle 2.6.1.Phân vi sinh cố định nitrogen (phân đạm vi sinh) Spoiler: click to toggle a)Phân vi khuẩn nốt sần: Trong các hệ thống cố định nitrogen sinh học, cố định nitrogen cộng sinh giữa các vi khuẩn nốt sần và cây họ đậu là quan trọng nhất, ước tính đạt trên 80 triệu tấn một năm, tương đương với lượng phân đạm vô cơ toàn thế giới năm 1990. Trong hộ thống cố định đạm sinh học này, mỗi nốt sàn là một nhà máy phân đạm mini, trong đó cây chủ vừa là chỗ trú ngụ đồng thời cũng là nguồn cung cấp phân đạm cho quá trình cố định đạm của vi khuẩn và nhận lại lượng đạm từ quá trình cố định nitrogenđể cung cấp cho các quá trình cố định đạm trong than, lá, hoa, quả. Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của cây họ đậu trong hệ thống luân canh và xen canh với các cây trồng khác. Vi khuẩn Rhizobium tồn tại trong đất, có thể xâm nhập vào các long hút của rễ cây họ đậu và kích thích tạo thành nốt sần nên được gọi là vi khuẩn nốt sần. Rhizobium thuộc nhóm vi khuẩn Gram âm, hiếu khí có dạng hình que, có khả năng di động, không sinh bào tử. Vi khuẩn phát triển tốt ở 28-300C và pH trung tính. Chúng có thể sử dụng đường, rượu và một vài loại acid làm nguồn năng lượng. Một số loài cần phải lấy vitamin và chất kích thích sinh trưởng từ môi trường, một số khác có thể tự tổng hợp được. Giữa cây bộ Đậu và vi khuẩn nốt sần hình thành mối quan hệ cộng sinh, nghĩa là quan hệ cả hai bên đều cần có nhau và dựa vào nhau để cùng phát triển, trong đó vi khuẩn nốt sần tổng hợp đạm từ nitrogen không khí cung cấp cho cây và ngược lại cây cung cấp các dưỡng chất càn thiết để vi khuẩn nốt sần sinh trưởng và phát triển. Có các loại phân như sau: -Phân nitragin chứa vi khuẩn nốt sần cây đậu tương -Phân rhidafo chứa vi khuẩn nốt sần cây lạc -Azotobacterin chứa vi khuẩn hút đạm tự do b)Phân vi khuẩn cố định nitrogen tự do: Một trong số vi khuẩn quan trọng là Azotobacter, một loại vi khuẩn hiếu khí, sống tự do và có mặt trong hầu hết tất cả các loại đất và hệ sinh thái nông nghiệp với số lượng khác nhau, trong đó đất mùn có độ pH trung tính chứa nhiều Azotobacter nhất. Phân bón vi sinh vật Azotobacter có thể được coi là loại phân bón vi sinh vật được ứng dụng sớm nhất, Azotobacter không chỉ có khả năng cố định nitrogen mà còn tổng hợp hoạt chất kích thích sin trưởng thực vật, một số vitamin và hoạt chất ức chế sinh trưởng của một số vi nấm gây bệnh vùng rễ một số cây trồng. Cũng như Azotobacter. Clostridium là một loại vi khuẩn có khả năng cố định nitrogen sống tự do trong đất và nước. Clostridium là loại vi khuẩn hình que, sinh bào tử và chỉ có thể sinh trưởng, phát triển trong điều kiện yếm khí. c)Phân vi khuẩn cố định nitrogen hội sinh: Vi khuẩn sống hội sinh trong vùng rễ cây trồng cũng có khả năng cố định nitrogen không khí, tổng hợp thành đạm cung cấp cho đất và cây trồng. Sản phẩm phân bón vi sinh vật có định nitrogen hội sinh được sự dụng nhiều nhất hiện nay là phân vi sinh được sản xuất tự Azopirillum. Đây là loại vi khuẩn Gram âm, có dạng xoắn từ nửa vòng đến vài vòng, sống hội sinh trong vùng rễ cây hòa thảo, cây họ đậu, bong và rau. Trong vùng rễ cây, Azopirillum nhận các chất hữu cơ từ chất tiết rễ cây làm nguồn dinh dưỡng, tổng hợp đạm cung cấp trở lại cho cây và đất. Quá trình cố định đạm do Azopirillum được xảy ra trong vùng phân cách hiếu khí và yếm khí của rễ cây, do vậy người ta còn gọi Azopirillum là loại vi khuẩn vi hiếu khí. Ở Việt Nam sản phẩm phân vi sinh vật Azopirillum được gọi dưới tên Azogin, Rhizoua. Đối với rau (xà lách, rau diếp,…) bón phân Azogin làm tăng sản lượng thu hoạch 20-30%, làm tăng khả năng chống chịu của cây và làm giảm lượng nitrat tồn dư trong rau. Bên cạnh các sản phẩm vi sinh vật cố định nitrogen nêu trên còn có một số sản phẩm vi sinh vật cố định nitrogen khác như vi khuẩn nội sinh, vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn hội sinh với thực vật bậc cao. Quy trình sản xuất: Phân lập tuyển chọn chủng vi sinh vật cố định Nito (VSVCĐN) Nhân sinh khối Xử lý sinh khối, tạo sản phẩm Kiểm tra chất lượng Hiệu quả sử dụng: Cố định nitơ cộng sinh giữa vi khuẩn nốt sần và cây bộ đậu hàng năm cung cấp thêm cho đất và cây trồng 40÷552kgN/ha. Phân vi sinh vật cố định nitơ hội sinh và tự do có tác dụng tốt đến sinh trưởng,phát triển và năng suất cây trồng. Đối với rau (xàlách,rau dếp,...), bón phân VSVCĐN cũng làm tăng sản lượng thu hoạch20-30%.Việc bón phân VSVCĐN còn làm tăng khả năng chống chịu của cây và giảm lượng nitrat tồn dư trong rau.Hiệu quả kinh tế sử dụng phân VSVCĐN là rõ rệt. Spoiler: click to toggle 2.6.2.Phân vi sinh vật phân giải hợp chất phosphor khó tan (phân lân vi sinh) Spoiler: click to toggle Định nghĩa: Phân bón vi sinh vật phân giải hợp chất photpho khó tan ( tên thường gọi : phân lân) là sản phẩm chứa một hay nhiều chủng vi sinh vật sống đã được tuyển chọn với mật độ tế bào đạt tiêu chuẩn hiện hành, có khả năng chuyển hoá hợp chất photpho khó tan thành dạng dễ tiêu cung cấp cho đất và cây trồng, tạo điều kiện nâng cao năng suất và hoặc chất lượng nông sản. Phân lân và các chủng vi sinh vật này không ảnh hưởng xấu đến người, động thực vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản. Hiệu quả sử dụng: Hàm lượng trong hầu hết các loại đất đều rất thấp. Vì vậy việc bón lân cho đất nhằm nâng cao năng suất cây trồng là việc làm cần thiết. Người ta cũng biết rằng khoảng 2/3 lượng lân được bón được đất hấp phụ trở thành dạng cây trồng không sử dụng được hoặc bị rửa trôi. Phân vi sinh vật phân giải phosphat khó tan không chỉ có tác dụng nâng cao hiệu quả cuả phân bón lân khoáng nhờ hoạt tính phân giải và chuyển hóa của các chủng vi sinh vật mà có tác dụng tận dụng nguồn phosphat địa phương có hàm lượng lân thấp, không đủ điều kiện sản xuất phân lân khoáng ở quy mô công nghiệp. Bón phân vi sinh có tác dụng làm tăng số lượng VSVPGL trong đất, dẫn đến tăng cường độ phân giải lân khó tan trong đất 23-35%. Cây trồng phát triển tốt hơn, thân lá cây mập hơn, to hơn, bản lá dày hơn, tăng sức đề kháng sâu bệnh, tăng năng suất Spoiler: click to toggle 2.6.3.Phân vi sinh vật hỗn hợp Spoiler: click to toggle Do hệ vi sinh vật rất đa dạng và phong phú, mỗi vi sinh vật trong đất đều chịu nhiều tác động qua lại của các vi sinh vật khác cũng như điều kiện môi trường nên vai trò của chúng trong các điều kiện khác nhau không giống nhau. Hỗn hợp vi sinh vật cố định nitơ, phân giải lân từ lâu đã được nghiên cứu và đưa vào ứng dụng ở nhiều nước trên thế giới. Tại Việt Nam, phân vi sinh vật hỗn hợp từ các chủng vi sinh vật cố định nitơ và vi sinh vật phân giải lân cũng có tác dụng tăng năng suất cây trồng và tiết kiệm một phần phân khoáng. Kết quả khảo nghiệm phân vi sinh vật hỗn hợp - sản phẩm của đề tài Khoa học công nghệ KHCN02.06 trên diện rộng đã chứng minh vai trò quan trọng của hỗn hợp vi sinh trong sản xuất nông, lâm nghiệp. Đối với rau, phân vi sinh vật hỗn hợp làm tăng năng suất so với đối chứng 14,7 - 15,2% trong vụ xuân và 15 ,0 - 15,7% trong vụ mùa, mang lại lợi nhuận cao hơn đối chứng 1.017.700 - 1.071.300 đồng/ha trong vụ xuân và 1.282.600 - 914.400 đồng/ha trong vụ mùa. Spoiler: click to toggle 2.6.4.Phân vi sinh vật chức năng Spoiler: click to toggle Nghiên cứu công nghệ sản xuất hỗn hợp vi sinh vật cố định nitơ, phân giải lân, sinh tổng hợp kích thích sinh trưởng thực vật và vi sinh vật đối kháng vi sinh vật gây bệnh vùng rễ như một loại phân bón chức năng sử dụng trong sản xuất nông lâm nghiệp là kết quả của đề tài cấp Nhà nước KC.04.04 thuộc chương trình "Nghiên cứu khoa học và phát triển Công nghệ sinh học" giai đoạn 2001-2004 do Viện KHKTNN Việt Nam chủ trì với sự cộng tác của Viện Công nghệ sinh học (Viện KH và CN Việt Nam), Viện Di truyền Nông nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp, Viện Công nghệ sinh học (Đại học quốc gia Hà Nội), Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, Viện Công nghệ sau thu hoạch và Viện KHNN miền Nam. Kết quả nghiên cứu đã chứng minh phân vi sinh vật đa chủng, chức năng có tác dụng tiết kiệm phân khoáng, giảm thiểu thuốc bảo vệ thực vật hóa học và góp phần tích cực cho việc xây dựng nền nông nghiệp bền vững. Edited by DHTP5-N2-NG.TH.QUYNHNHU-O9219631, Feb 28 2012, 10:37 PM.
|
|
|
| 1 user reading this topic (1 Guest and 0 Anonymous) | |
| « Previous Topic · 12. Ứng dụng CNSH trong bón phân và xử lý bệnh cho cây ăn lá · Next Topic » |
| Track Topic · E-mail Topic |
1:58 AM Jul 12
|





1:58 AM Jul 12