- Trang chủ
- →
- Công nghệ Sinh học Thực phẩm
- →
- Đại Học Thực Phẩm 5
- →
- 12. Ứng dụng CNSH trong bón phân và xử lý bệnh cho cây ăn lá
- →
- nội dung 3

| Chào mừng các bạn đến với Forum của tôi. Hiện tại bạn đang là khách của forum. Điều này sẽ giới hạn bạn trong việc sử dụng các chức năng. Nếu muốn, bạn có thể đăng ký thành viên. (member). Quá trình đăng ký rất đơn giản, nhanh chóng và hoàn toàn miễn phí. Bạn hãy lưu ý về các quy định chung để không bị khóa nick. Join our community! Nếu bạn đã là thành viên, vui lòng đăng nhập (log in): |
| nội dung 3; chuong3,4 | |
|---|---|
| Tweet Topic Started: Feb 28 2012, 10:39 PM (718 Views) | |
| DHTP5-N2-NG.TH.QUYNHNHU-O9219631 | Feb 28 2012, 10:39 PM Post #1 |
|
CHƯƠNG III: ỨNG DỤNG CNSH XỬ LÝ BỆNH CHO CÂY ĂN LÁ 3.1. Cách xử lý bệnh cây ăn lá Spoiler: click to toggle Nguyên nhân gây ra bệnh ở cây ăn lá chủ yếu là do nấm bệnh có nguồn gốc trong đất gây hại. Như đã trình bày ở chương I,chúng gây bệnh cho rễ và các phần của cây trồng tiếp xúc vớí đất. Với điều kiện ẩm độ cao và ít ánh sáng là một trong những điều kiện dễ cho nấm bệnh phát triển. Cỏ dại và sâu bệnh hại cũng là nguồn kí chủ mang truyền các bệnh cây. Bên cạnh đó còncó thể là do giống cây sẵn mang bệnh hay do sinh lý của cây không phù hợp với các yếu tố ngoại cảnh. Khi cây vừa mới có dấu hiệu mang bệnh, phát hiện kịp thời thì xử lý bằng cách; Khi phát hiện rau có phát sinh bệnh, không được dùng thuốc bảo vệ thực vật. Biện pháp xử lý duy nhất là hạn chế tưới nước, dùng muỗng vét các chỗ bị bệnh ra, cách ly những câybị bệnh ra khỏi khu vực sản xuất để tránh lây lan. Sau đó căn cứ vào triệu chứng bệnh bên ngoài và thông qua lập luận, kiểm tra, giám định, chuẩn đoán bệnh của cây mà đưa ra biện pháp xử lý. Khi số lượng cây bị bệnh quá nhiều nhưng bệnh không quá nặng Diệt trừ mầm gây bệnh (các loại nấm) từ từ cho đến hết, kết hợp các biện pháp canh tác và bón phân phù hợp hơn cho cây, nếu thấy xuất hiện sâu hại hay cỏ dại thì cũng diệt trừ chúng bằng biện pháp thích hợp (bắt sâu, thuốc trừ sâu, nhổ cỏ, thuốc trừ cỏ…). Lưu ý phải dùng nước sạch để tưới cho cây nước qua xử lý. Không sử dụng nguồn nước kênh mương, nguồn nước có nguy cơ nhiễm khuẩn. Điều chỉnh ánh sáng, lượng nước tưới để tạo ẩm độ thích hợp. giá thể trồng rau phải là loại đất trồng sạch, không chứa các thành phần hóa học có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe. Giá thể không nên trồng nhiều lần. Khi cây bị bệnh nặng mà không phát hiện kịp thời Phải loại bỏ tất cả cây và giống cây chưa dùng hết, xử lý và làm sạch lại đất. Ở đây chúng ta sẽ tìm hiểu đến CNSH ứng dụng để diệt trừ bệnh hại (trực tiếp là do nấm) mà không trình bày đến các biện pháp sinh học khác như trừ sâu bệnh hại, cỏ dại là những tác nhân gián tiếp truyền bệnh (bạn đọc có thể tham khảo ở những tài liệu khác). •Sử sụng các thuốc trừ nấm như: -Sử dụng các chất kháng sinh -Sử dụng nấm đối kháng Trichoderma sp -Sử dụng xạ khuẩn steptomyces dicklowii -Sử dụng vi khuẩn huỳnh quang pseudomanas •Ứng dụng CNSH tạo ra các giông cây trồng kháng bệnh nấm (công nghệ chuyển gen GMO) 3.2. Công nghệ sản xuất thuốc trừ nấm sinh học Spoiler: click to toggle Trong tự nhiên, hầu hết các loài bệnh hại đều có một số sinh vật đối kháng để khống chế, chúng được gọi là phòng trừ sinh học. Trong thiên nhiên có vô số thí dụ điển hình về phòng trừ sinh học. Trong một số loại đất có các vi sinh vật có thể khống chế phát triển của nấm bệnh, không có cân bằng này thì các loài nấm bệnh sẽ chiếm ưu thế trong thiên nhiên. Diện tích trồng lúa sẽ giảm nếu các giống nhiễm bệnh được trồng qua nhiều năm. Các điều tra cho thấy mỗi loài vi sinh vật gây bệnh trên cây trồng đều có những con vi sinh khác khống chế. Hiện nay người ta đã sản xuất được nhiều loại thuốc trừ nấm sinh học từ nấm hay vi khuẩn. Các thuốc trừ nấm sinh học có nhiều cơ chế hoạt động khác nhau, phần lớn ngăn cản không cho nấm bệnh sinh sản như cạnh tranh, đối kháng, tiết ra chất kháng sinh, kích thích hệ thống cây tạo ra phản ứng phòng vệ, tấn công và ăn các khuẩn ty nấm bệnh. Trên thế giới, nấm Rhizoctonia solani Kühn và Fusarium gây thiệt hại nghiêm trọng đối với năng suất của nhiều loại cây trồng như cây ngũ cốc (lúa, ngô, khoai tây), cây rau (lạc, đậu đỗ, cà chua, cải bắp, xà lách), cây ăn quả và cây công nghiệp (bông). Nấm gây ra các triệu chứng thối đen rễ, lở cổ rễ, thối gốc thân, thối thân, khô vằn, thối lá. Nấm bệnh gây thiệt hại lên tới 11,6% tổng sản lượng nông nghiệp. Ở nước ta, hàng năm sản lượng nông nghiệp thất thu hàng ngàn tỷ đồng do nấm bệnh gây ra trên một số cây trồng quan trọng như ngô, khoai tây, đậu tương, đỗ. Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, chế phẩm sinh học có nguồn gốc từ vi khuẩn đối kháng ngày càng được quan tâm sử dụng để diệt nấm gây hại cây. Một số chủng vi khuẩn đối kháng như Burkholderia, Pseudomonas, Bacillus đã và đang được quan tâm nghiên cứu vì chúng tổng hợp một số chất ngoại bào với khả năng ức chế sự nẩy mầm và phát triển của nấm bệnh F. oxysporum và R. solani. Vi khuẩn đối kháng Bacillus, Burkholderia và Pseudomonas được phân lập từ đất, rễ cây, có khả năng kiểm soát hiệu quả đối với nấm Pythium, R. solani và F. oxysporum… gây bệnh thối rễ, thối thân ở cây đậu tương, cây đỗ, rau diếp, cây trạng nguyên, cây khoai tây. CNSX nấm đối kháng Trichoderma sp Trichoderma sp là một loại vi nấm có tác dụng đối kháng với các nấm bệnh có trong đất như: Fusarium sp, Rhizoctonia solani, Sclerotium rolfsii, Phytophthora palmivora, Pythium sp,… Sở dĩ nói Trichoderma sp là nấm đối kháng bởi vì chúng đối kháng với các nấm bệnh bằng cách ký sinh trên nấm bệnh, cạnh tranh thức ăn, sản sinh ra các chất kháng sinh và enzyme tiêu diệt, ngăn cản sự xâm nhập của nấm bệnh vào cây trông, bảo vệ tốt bộ rễ cây, phòng trừ được các bệnh chết rụi và héo rũ cây. Trichoderma sp còn kích thích sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng nhờ sự phân huỷ cellulose các chất hữu cơ có trong đất làm tăng chất dinh dưỡng dưới dạng dễ hấp thụ cho cây trồng và không gây độc hại hoặc ô nhiễm môi trường. Gần đây, Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Nông vận đã thành công trong việc nuôi cấy bán công nghiệp Trichoderma sp để từ đó sản xuất ra chế phẩm sinh học mang tên Vi-ĐK. Theo quảng bá thì: "Vi-ĐK không gây tính kháng ở nấm bệnh như các loại thuốc hóa học khác. Vi-ĐK chứa bào tử sống tự nhân lên và lưu tồn trong đất qua nhiều mùa vụ. Vi-ĐK dùng được cho tất cả cây trồng cạn ở bất kỳ giai đoạn sinh trưởng nào. Vi-ĐK có nguồn gốc tự nhiên không gây ô nhiễm môi trường, không ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng". Nghiên cứu sản xuất nấm đối kháng Dùng môi trường Czapex-Dox để phân lập nấm Trichoderma Môi trường sản xuất nấm Trichoderma gồm bã mía, bã đậu, cám gạo, lõi ngô và thóc. Kết quả đạt được: nghiên cứu trên tất cả các nguồn nấm Trichoderma thì đều có khả năng ức chế với 3 loại nấm bệnh, hiệu quả ức hcees đạt từ 63,1-74,8% tùy theo loài Trichoderma và tùy theo từng loại nấm bệnh. Quy trình sản xuất chế phẩm nấm Trichoderma harzianum B1: Tuyển chọn nguồn giống nấmTrichoderma B2: dùng thóc làm nguyên liệu sản xuất nấm trong điều kiện nhiệt độ 25-30 độ C với ánh sáng bình thường trong khoảng từ 7-10 ngày B3: thu chế phẩm và làm khô ở 40-45 độ C. B4: đóng gói và bảo quản chế phẩm ở nơi thoáng mát. Năm 2002, Viện bảo vệ thực vật đã tiến hành thí nghiệm ứng dụng chế phẩm Trichoderma harzianum để trừ bệnh lở cổ rễ trên diện tích 1habawsp cải tại HTX Song Phương, tỉnh Hà Tây kết quả cho thấy, nấm đã hạn chế được bệnh lở cổ rễ, thời vụ trồng ngày 11/10-15/10 cho hiệu quả cao từ 69-70% và tỉ lệ bệnh không cần xử lý đạt 6,13-10%. Kích kháng Việc kích thích cây tạo phản ứng phòng vệ nhân tạo bằng cách chủng vi sinh vật hay hóa chất được gọi là kích kháng. Những cây này đáp ứng các kích thích nguyên cả cây để làm giảm mức độ thiệt hại trước tấn công của nhiều tác nhân gây bệnh do nấm, vi khuẩn và virus. Những nghiên cứu bước đầu về lĩnh vực này là chủng nấm hay vi khuẩn để ngừa nhiễm bệnh giai đoạn sau. Hiện có 2 sản phẩm kích kháng trong thị trường: Actiguard và Messenger. Những sản phẩm này được phun lên cây trồng theo lịch định kỳ sẽ đạt hiệu quả cao trong việc ngăn chặn xâm nhiễm của nấm, vi khuẩn hay virus. 3.3. Công nghệ chuyển gen GMO tạo các giống cây trồng có khả năng kháng bệnh Spoiler: click to toggle Tác động của nấm gây bệnh với cây chủ Chủ yếu là các enzym, chất dđiều tiết sinh trưởng, các loại độc tố của nấm hoặc là tổng hợp tất cả các loại trên. Các enzym của nấm phân huỷ cấu trúc tế bào cây chủ sau khi zâm nhập vào cây chủ qua nhiều khác nhau, có thể do vết thương cơ giới, qua bề mặt còn nguyên vẹn… nấm tiết ra các enzymxenlulolaza, hemixenlulolaza, pectin esteraza…để phân giải thành phần cấu tạo màng tế bào cây chủ. Các enzym của nấm làm mất khả năng bảo vệ của phytoalexin thực vật, làm biến đổi hoặc phân huỷ các phytoalexin của cây, làm giảm khả năng kháng bệnh của cây đối với nấm gây bệnh. Phản ứng của cây chủ với nấm gây bệnh Khi nấm xâm nhập vào cây thì xảy ra phản ứng tự bảo vệ của cây chống lại sự xâm nhập của nấm gây bệnh. -Có 2 loại phản ứng kháng, đó là: + Phản ứng kháng đặc hiệu xảy ra theo cơ chế gen đối gen, nghĩa là một gen quy định sức đề kháng của cây chủ thì có một gen tương ứng quy định sức phá hoại của nấm bệnh. + Phản ứng không đặc hiệu xảy ra đối với bất kỳ chủng nấm gây bệnh, có tác dụng hạn chế khả năng phát triển bệnh nhờ sản phẩm các gen mã hoá các protein có hoạt tính kháng nấm và các gen kiểm tra trao đổi chất thứ cấp. -Các protein có hoạt tính kháng nấm bệnh cây trồng bao gồm các protein là enzym như chitinaza, gluconaza, polygalactonaza, thionin, definin và các protein gây bất hoạt riboxom. Chitinaza, gluconaza, polygalactonaza là các enzym đặc hiệu có khả năng phân giải màng tế bào nấm khi chúng xâm nhập vào tế bào cây chủ. Thionin, deffinin là các protein có hoạt tính kháng nấm với phổ hoạt động rất rộng, chúng thường có ở trong cây đậu. Các protein gây bất hoạt riboxom có tác dụng kìm hãm sinh trưởng của nấm bệnh và kích thích sự có mặt của chitinaza trong cây chủ. Các gen kiểm tra trao đổi chất thứ cấp ở cây trồng, các gen này mã hoá protein tham gia vào các quá trình trao đổi thứ cấp, trong đó có polyphenoloxydaza và pedoxydaza. Khi bị nhiễm nấm, các chất phenol có vai trò là các phytoalexin có hoạt tính kháng nấm bằng cách gây bất hoạt các enzym của nấm hoặc tăng cường bảo vệ cấu trúc thành tế bào cây chủ, tạo ra hàng rào ngăn cản sự xâm nhập cũng như khả năng lây lan của nấm bệnh trong cây. Polyphenoloxydaza có vai trò làm oxy hoá các chất phenol tạo ra các sản phẩm oxy hoá có tính kháng nấm. Phát hiện các gen của nấm gây bệnh với cây trồng Quá trình xâm nhập của các sợi nấm vào cây sẽ gây bệnh hại cây trồng, kiểm tra các thể đột biến nhận thấy chúng có liên quan đến từng giai đoạn phát triển của nấm bệnh, thông qua mối tương quan gen, đối gen giữa sức đề kháng của cây và sức gây hại của nấm bệnh, trên cơ sở đó xây dựng được biện pháp kiểm soát hoạt động của gen nấm bệnh và tạo ra giống mới có sức chống chịu với nấm bệnh cây. Tạo đột biến bằng cách cài gen để phát hiện các gen chìa khoá trong quá trình gây bệnh của nấm bệnh cây. Nhiều quá trình biến nạp gen đã được thiết lập với nhiều thể đột biến được tạo ra, về nguyên lý thì quy trình biến nạp gen thường bao gồm các bước sau: Bước 1: thiết kế vectơ mang gen chỉ thị dùng trong biến nạp: Vectơ phải có khả năng tái tổ hợp với AND của nấm bệnh. Phương pháp phổ biến thường dùng là cì một đoạn gen chỉ thị (gen đánh dấu) dùng trong biến nạp, gồm 3 nhóm chính sau: -Những gen quy định tính kháng thuốc kháng sinh hoặc kháng thuốc diệt nấm ở các loài nấm mẫn cảm. -Những gen quy định tính phụ thuộc dinh dưỡng của các cá thể đột biến hoặc các gen cho nấm sử dụng nhờ cơ chất. -Các gen chỉ thị màu để quan sát sự có mặt của vectơ biến nạp trong hệ gen thông qua sự thay đổi màu sắc của thể đột biến trên môi trường nuôi cấy. Bước 2 chuẩn bị cơ thể tiếp nhận vectơ Tế bào cây chủ tiếp nhận vectơ trong biến nạp gen ở nấm bệnh cây có thể là tế bào nguyên vẹn hoặc là tế bào trần của chính loại nấm bệnh. Bình thường thì tế bào trần có khả năng tiếp nhận vectơ cao hơn, như vậy tần suất biến nạp cũng tăng lên tương ứng. Quá trình tạo tế bào trần từ nấm bệnh đòi hỏi phải lựa chọn enzym phân huỷ tế bào, đây là khâu rất quan trọng và các tế bào trần tạo ra phải được bảo vệ trong dung dịch cân bằng áp suất thẩm thấu. Bước 3 quá trình biến nạp gen có 3 phương pháp : -Biến nạp trực tiếp vao tế bào trần nguyên vẹn -Biến nạp qua tế bào trần của nấm bệnh -Biến nạp qua tế bào trần của nấm bệnh với sự hỗ trợ của enzym cắt giới hạn (kỹ thuật cài gen REMI) Bước 4 chọn lọc các thể biến nạp dựa vào các gen chỉ thị -Tái sinh tế bào -Chọn lọc các thể biến nạp Bước 5 đánh giá tình trạng đột biến Bước 6 xác định gen đột biến bằng kỹ thuật phân tử Việc xác định gen gây bệnh ở nấm và các gen kháng bệnh ở cây có ý nghĩa quyết định để tìm ra thuốc bảo vệ thực vật đặc hiệu, mang tính chọn lọc, ít tác động tới môi trường sinh thái. Tạo và sử dụng các giống cây kháng bệnh bằng công nghệ chuyển gen GMO Chuyển gen tổng hợp lectin Lectin là protein được liên kết với cacbonhydrat, chúng liên kiết với phân tử glucoprotein, glucolipit, polysaccarit. Lectin được xác định bằng khả năng của chúng liên kết đặc hiệu với các phân tử như mantoza, N – axetylglucosamin. Chất lectin khi được chuyển vào cây có tác dụng gây độc đối với vi sinh vật hại cây như vi khuẩn, virus, vi nấm, côn trùng hại cây và một số động vật nguyên sinh. Các gen tổng hợp lectin được sử dụng để biến nạp vào cây thuốc lá là P-LIC được tách ra từ cây đậu và các gen khác như GNP, PHA chuyển vào các cây trồng khác nhau. Liều lượng và thành phần gây độc của lectin đối với côn trùng hại và động vật nguyên sinh phụ thuộc vào khả năng liên kết của pectin với glucoprotein của thành ống và điều kiện bên trong của ống tiêu hoá của côn trùng gây hại và động vật nguyên sinh. Chuyển gen tổng hợp các chất trao đổi thứ cấp Các chất trao đổi thứ cấp là chất được tạo ra bởi cây trồng, tập trung nhiều nhất là nhóm alcaloit. Các chất này có vai trò quan trọng trong bảo vệ thực vật. Qua nghiên cứu về cấu trúc hoá học, quá trình sinh tổng hợp và liều lượng, các nhà khoa học thấy rằng, các chất thứ cấp có khả năng gây độc với sâu, bệnh hại cây trồng. Nhiều chất độc chỉ đặc hiệu với côn trùng hại mà không ảnh hưởng đến động vật khác. Các gen có vai trò kiểm tra các chất trao đổi thứ cấp được nghiên cứu để biến nạp vào cây đều có khả năng kháng bệnh cho cây trồng. Tuỳ từng loại côn trùng khác nhau mà các cây chứa chất độc cũng có những liều lượng khác nhau. Có 2 hướng tác động vào quá trình trao đổi chất của cây để tạo ra các chất bảo vệ khi bị côn trùng hại tấn công. -Tăng cường các chất có hoạt tính kháng côn trùng vào cây bằng cách tăng cường biểu hiện của các gen mã hoá hoặc làm giảm sự phân huỷ các chất này ở trong cây. Sử dụng các promoter đặc hiệu với mô sẽ làm tăng cường gen kháng côn trùng. -Đưa các gen lạ vào cây trồng để chúng có thể tạo ra các chất độc mới có khả năng kháng lại sâu hại cây trồng. -Chuyển các gen kháng nấm bệnh -Các gen kháng nấm bệnh là các gen mã hóa cho các protein có liên quan đến cơ chế bảo vệ tự nhiên của cây kháng với nấm bệnh. theo nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ thì trong cây có nhiều loại protein có khả năng kháng nấm bệnh. cơ chế kháng nấm là cây trồng tạo ra các phytoalecxin tại nơi tổn thương để diệt tế bào nấm hoặc tạo ra các men thủy phân tại chooxbij nhiễm bệnh để phân hủy các tế bào nấm khi chúng xâm nhập. -các gen mã hóa cho các protein kháng nấm bao gồm: Chitinaza và 1,3-glucoaza có ảnh hưởng đến sự lây nhiễm của nấm bệnh, các gen mã hóa protein kìm hãm polygalactoaza có tác dụng kích thích tạo ra phytoalecxin để bảo vệ cây; Thionin, definin, protein gây bất hoạt riboxom và các protein kháng nấm. -Cây chuyển gen được tạo nên bởi nhiều tổ hợp protein để bảo vệ cây, cây thể hiện khả năng sinh ra protein làm tăng sức đề kháng cho cây có khả năng chống lại các bệnh gây hại. -Đến nay trên thế giới chỉ có một vài nước tiên tiến nghiên cứu sử dụng gen kháng virus, gen kháng nấm bệnh hại cây trồng và trên thực tế vẫn chưa có nước nào ứng dụng được rộng rãi. CHƯƠNG IV: HƯỚNG PHÁT TRIỂN TƯƠNG LAI CỦA CNSH TẠI VIỆT NAM 4.1. Bức tranh Công nghệ sinh học ở Việt Nam Spoiler: click to toggle Trong khi Công nghệ sinh học thế giới đã và đang phát triển như vũ bão, thì Công nghệ sinh học ở ta còn ở mức rất thấp so với khu vực , chứ chưa nói so với các nước phát triển. Một số nhà Công nghệ sinh học cũng thừa nhận là trình độ Công nghệ sinh học của ta đang ở giai đoạn “công nghệ chai lọ” . Thực vậy, Công nghệ sinh học của ta hiện nay vẫn chỉ đang ở giai đoạn ban đầu làm quen, tiếp cận với các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu Công nghệ sinh học và cũng mới chỉ có mặt tại một số Viện nghiên cứu và một số trường Đại học lớn. Công nghệ sinh học là một trong số ít các chương trình Khoa Học Công Nghệ trọng điểm được Nhà nước quan tâm đầu tư từ năm 1986 đến nay ( Chương trình Công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp và 3 chương trình Công nghệ sinh học từ 1991-2005. Vậy nguyên nhân nào mà Công nghệ sinh học của ta trong một thời gian dài vẫn ì ạch, dậm chân tại chỗ, không trở thành động lực thực sự cho nền kinh tế nông công nghiệp y dược. 1. Đường lối chính sách Công nghệ sinh học chưa đồng bộ và còn nhiều bất cấp 2. Cách đầu tư và tổ chức nghiên cứu Công nghệ sinh học vẫn mang tính chất bao cấp 3. Bản thân cộng đồng khoa học còn yếu kém, chưa đủ tâm và đủ tầm để nghiên cứu Công nghệ sinh học 4. Điều kiện cơ sở vật chất chưa đáp ứng cho hoạt động Công nghệ sinh học 5. Thị trường Khoa Học Công Nghệ và Công nghệ sinh học nói riêng chưa phát triển ( hầu như chưa có ). 4.2. Định hướng phát triển Công nghệ sinh học ở Việt Nam Spoiler: click to toggle Cần một tư duy hệ thống. Để phát triển Khoa Học Công Nghệ nói chung và Công nghệ sinh học nói riêng đã đến lúc phải thay đổi tư duy, bỏ cách nghĩ cảm và duy ý chí. Thay vào đó là cái nhìn toàn diện hay cách nhìn tổng thể theo một hệ thống đồng bộ. Nước ta còn nghèo, ta càng cần phải tìm cách đi khôn ngoan và phù hợp, làm sao để phát triển Công nghệ sinh học trong thời gian ngắn nhất và đạt hiệu quả nhất. Sơ đồ tổng thể dưới đây cho thấ: để tạo ra một sản phẩm Công nghệ sinh học đích thực cần phải có ít nhất 6 nhóm yếu tố: từ hệ thống chính sách khôn ngoan, nguồn nhân lực được đào tạo tốt, điều kiện cơ sở vật chất, môi trường nghiên cứu lành mạnh, thị trường Công nghệ sinh học phát triển đến hệ thống tổ chức nghiên cứu Công nghệ sinh học . Có thể thấy rằng, theo sơ đồ tổng quát trên thì hiện nay, ngoài chủ trương, đường lối ở dạng nửa vời, ngoài một số đầu tư ít ỏi cho Công nghệ sinh học , ta thiếu hầu hết các nhóm yếu tố cần và đủ để phát triển ngành Công nghệ sinh học thật sự. Từ phân tích hệ thống, có thể thấy rằng để xây dựng, phát triển và phát huy có hiệu quả hệ thống Khoa Học Công Nghệ cần phải vận hành đồng bộ tất cả các yếu tố cấu thành hệ thống. Sự yếu kém hoặc thiếu hụt dù một yếu tố trong đó cũng có thể dẫn đến thất bại, hệ thống không những không phát huy tác dụng mà còn gây lãng phí lớn về tài nguyên con người và nguồn kinh phí đầu tư. Đầu tư cho Khoa Học Công Nghệ nói chung và Công nghệ sinh học nói riêng, không chỉ là lấy tiền nhà nước cấp cho các đề tài nghiên cứu mà cần có cách nhìn mới theo tư duy mới: nhà nước chỉ đầu tư cho các nghiên cứu Công nghệ sinh học cơ bản và định hướng và đào tạo nguồn nhân lực. Bên cạnh đó nhà nước cần tạo môi trường và khuyến khích các doanh nghiệp ứng dụng Công nghệ sinh học cho sản xuất và nhờ sản xuất thành công chính doanh nghiệp tự đầu tư để phát triển Công nghệ sinh học nhắm tạo ra các sản phẩm Công nghệ sinh học có sức cạnh tranh trên thị trường. Khi Công nghệ sinh học biến thành sức mạnh vật chất, khi có nhu cầu thật sự, doanh nghiệp không những sẽ tự tổ chức nghiên cứu những gì họ cần mà còn đầu tư cho các Phòng thí nghiệm Công nghệ sinh học thông qua hợp đồng nghiên cứu những công nghệ hay sản phẩm mới mà tự họ chưa hoặc không tự làm được. 1. Nhập khẩu công nghệ 2. Khuyến nông và Khuyến công 3. Phát triển thị trường Công nghệ sinh học 4. Đi tắt đón đầu và đầu tư có trọng điểm Edited by DHTP5-N2-NG.TH.QUYNHNHU-O9219631, Feb 28 2012, 10:44 PM.
|
|
|
| 1 user reading this topic (1 Guest and 0 Anonymous) | |
| « Previous Topic · 12. Ứng dụng CNSH trong bón phân và xử lý bệnh cho cây ăn lá · Next Topic » |
| Track Topic · E-mail Topic |
1:58 AM Jul 12
|





1:58 AM Jul 12