Welcome Guest
[Log In]
[Register]
[ Gửi Thông Điệp ] |
Chào mừng bạn đến Diễn đàn Khoa học vật liệu . Cảm ơn bạn đã quan tâm đến diễn đàn.Xin mời bạn Đăng ký! để có được nhiều quyền hơn trong diễn đàn, chẳng hạn như post bài, trả lời bài... Nếu bạn đã là thành viên của diễn đàn, hãy đăng nhập để sử dụng hết quyền của mình. |
| Giới thiệu CÔNG NGHỆ NANO | |
|---|---|
| Tweet Topic Started: Nov 27 2012, 10:21 AM (2,274 Views) | |
|
|
Nov 27 2012, 10:21 AM Post #1 |
![]()
|
CÔNG NGHỆ NANO A.KHÁI NỆM “ Là ngành công nghệ liên quan đến việc thiết kế, phân tích, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng, kích thước trên quy mô nanomét. B.VẬT LIỆU NANO Vật liệu nano là loại vật liệu có kích thước cỡ nanômét. Đây là đối tượng nghiên cứu của khoa học nano và công nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực trên với nhau. Tính chất của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thước của chúng, vào cỡ nanômét, đạt tới kích thước tới hạn của nhiều tính chất hóa lý của vật liệu thông thường. Đây là lý do mang lại tên gọi cho vật liệu. Kích thước vật liệu nano trải một khoảng từ vài nm đến vài trăm nm phụ thuộc vào bản chất vật liệu và tính chất cần nghiên cứu. Vật liệu nano là vật liệu trong đó ít nhất một chiều có kích thước nano mét. Về trạng thái của vật liệu, người ta phân chia thành ba trạng thái, rắn, lỏng và khí. Vật liệu nano được tập trung nghiên cứu hiện nay, chủ yếu là vật liệu rắn, sau đó mới đến chất lỏng và khí. Về hình dáng vật liệu, người ta phân ra thành các loại sau: • Vật liệu nano không chiều (cả ba chiều đều có kích thước nano, không còn chiều tự do nào cho điện tử), ví dụ, đám nano, hạt nano... • Vật liệu nano một chiều là vật liệu trong đó hai chiều có kích thước nano, điện tử được tự do trên một chiều (hai chiều cầm tù), ví dụ, dây nano, ống nano,... • Vật liệu nano hai chiều là vật liệu trong đó một chiều có kích thước nano, hai chiều tự do, ví dụ, màng mỏng,... • Ngoài ra còn có vật liệu có cấu trúc nano hay nanocomposite trong đó chỉ có một phần của vật liệu có kích thước nm, hoặc cấu trúc của nó có nano không chiều, một chiều, hai chiều đan xen lẫn nhau. Vật liệu nano gồm 2 loại chính là : nanolay và ống nano carbon 1.NANOCLAY Nanoclay (còn gọi là nano khoáng sét) được cấu tạo từ các lớp mỏng, mỗi lớp có chiều dày từ một đến vài nanomét, còn chiều dài từ vài trăm đến vài nghìn nanomet. Loại nanoclay đầu tiên được tìm thấy trên thế giới là montmorillonit (ở Montmorillon, Pháp, năm 1874). Montmorillonit (viết tắt là MMT) thuộc nhóm smectit, cùng với các loại khoáng khác như cao lanh, palygorskit, sepiolit,... là những loại khoáng quan trọng trong công nghiệp. Khoáng Smectite thường được gọi bằng cái tên bentonit, đây là tên một loại đá chứa chủ yếu loại khoáng này. Smectite là họ các khoáng trong đó bao gồm 2 loại quan trọng nhất: • Natri montmorillonit • Canxi montmorillonit Cấu trúc Cấu trúc lý tưởng của nanoclay montmorillonit Năm 1933, U. Hoffman, K. Endell và D. Wilm công bố cấu trúc tinh thể lý tưởng của montmorillonit. Cấu trúc này bao gồm 2 tấm tứ diện chứa silic và 1 tấm bát diện chứa nhôm hoặc magiê diện bị kẹp giữa 2 tấm tứ diện. Các tấm này có chung các nguyên tử oxy ở đỉnh. Độ dày của mỗi lớp clay khoảng 9,6Å. Khoảng cách giữa hai lớp clay bằng tổng độ dài của chiều dày một lớp nanoclay với khoảng cách giữa hai lớp nanoclay được gọi là khoảng cách cơ bản (gọi tắt là khoảng cách d). Độ dày tinh thể từ 300Å đến vài μm hoặc lớn hơn, tuỳ thuộc loại silicat. Công thức chung của MMT có dạng Mx(Al4 – xMgx)Si8O20(OH)4. Trong đó M là cation đơn hoá trị, x là mức độ thế x = 0,5 ÷ 1,3. Mặc dù trong cấu trúc của chúng đều có các cấu trúc tứ diện và bát diện sắp xếp thành từng lớp nhưng tuỳ thuộc vào cấu trúc và thành phần mà các khoáng này có tính chất vật lý và hoá học khác nhau. Sự sắp xếp và thành phần của cấu trúc tứ diện hay bát diện quyết định đến tính chất của clay. Kích thước, hình dạng, phân bố hạt cũng là những tính chất vật lý quan trọng, các ứng dụng cụ thể đều phải căn cứ vào những tính chất này. Ngoài ra, những đặc tính quan trọng khác như hoá học bề mặt, diện tích và điện tích bề mặt cũng ảnh hưởng đến tính chất của vật liệu.[1] Do khả năng thay thế đồng hình của Si4+ cho Al3+ ở tấm tứ diện và của Al3+ cho Mg2+ hoặc Fe2+ ở tấm bát diện nên giữa các lớp nanoclay có điện tích âm. Các điện tích âm này được trung hòa bởi các cation kim loại kiềm hoặc kiềm thổ như Ca2+ và Na+ ở giữa các lớp clay. Ngoài ra, do nanoclay có tính ưa nước cao, giữa các lớp nanoclay thường có các nguyên tử nước. Các lớp nanoclay được liên kết với nhau bằng lực Van der Waals. Các lớp clay có điện tích không giống nhau nên trong tính toán phải lấy giá trị điện tích trung bình của toàn bộ tinh thể.[11] Một số thông số vật lý của nanoclay • Khối lượng phân tử (g/mol) 540,46 • Tỷ trọng trung bình (g/cm3) 2,35 • Hệ tinh thể Monoclinic • Độ cứng Mohs ở 200C 1,5 – 2,0 • Màu sắc trắng, vàng • Đặc tính Tinh thể trương lên nhiều lần khi hấp thụ nước Một số tài liệu công bố thành phần hoá học của nanoclay có: Al = 9,98%, Si = 20,78%, H = 4,10% and O = 65,12%. Ngoài Montmorillonite thì hectorit và saponit cũng là những loại vật liệu silicat dạng lớp thông dụng và chúng đều có cấu trúc giống như trên. Bảng 2 dưới đây cho biết công thức hoá học và một số đặc trưng của chúng. [2, 7] Công thức hoá học và một số đặc trưng của 3 loại silicat dạng lớp thông dụng Loại chất Công thức hoá học CEC (meq/100g) Chiều dài hạt (nm) Montmorillonite Mx(Al4-xMgx)Si8O20(OH)4 110 100÷150 Hectorit Mx(Mg6-xLix)Si8O20(OH)4 120 200÷300 Saponit MxMg6(Si8-xAlx)Si8O20(OH)4 86,6 50÷60 Ghi chú: M: cation hoá trị I x: mức độ thế đồng hình (tù 0,5÷1,3) CEC: khả năng trao đổi cation. Biến tính nanoclay Nanoclay là chất vô cơ, có tính ưa nước. Trong khi nền polyme để chế tạo vật liệu nanocompozit là các chất hữu cơ và thường có tính kỵ nước. Do vậy, nanoclay rất khó trộn hợp với polyme. Để tăng sự tương hợp giữa nanoclay và polyme thì người ta phải biến tính nanoclay. Có một số phương pháp (kỹ thuật) dùng để biến tính nanoclay, trong đó thông dụng nhất là phương pháp trao đổi ion. Dưới đây là một số loại nanoclay thương mại hiện có bán trên thị trường Nanomer®I.30E Nanocor, Inc. (Mỹ) - - - Nanomer®I.28E Trimetyl stearyl amoni 1,7 Cloisite®Na+ Southern Clay Products, Inc. (Mỹ) Chưa biến tính <2% 2,86 Cloisite®30B Metyl tallow bis-2-hydroxyetyl amoni <2% 1,98 Cloisite®20A Dimetyl dihydrogenat tallow amoni <2% 1,77 Tixogel®MP250 Süd-Chemie (Đức) Muối amin bậc 4 <3% 1,66 Tixogel®MP100 <2,5% 1,43 ( “http://vi.wikipedia.org/wiki/Nanoclay”) 2.ỐNG NANO CARBON Các ống nanô cácbon (Tiếng Anh: Carbon nanotube - CNT) là các dạng thù hình của cacbon. Một ống nano cacbon đơn lớp là một tấm than chì độ dày một-nguyên-tử cuộn tròn lại thành một hình trụ liền, với đường kính cỡ nanomet. Điều này xảy ra trong các cấu trúc nano mà ở đó tỉ lệ giữa chiều dài và đường kính vượt trên 10.000. Các phân tử cacbon hình trụ đó có các tính chất thú vị làm cho chúng có khả năng hữu dụng cao trong rất nhiều ứng dụng của công nghệ nano, công nghiệp điện tử, quang học, và một số ngành khoa học vật liệu khác. Chúng thể hiện độ bền đáng kinh ngạc và các tính chất điện độc đáo, và độ dẫn nhiệt hiệu quả. Các ống nano vô cơ cũng đã được tổng hợp. Ống nano là một loại cấu trúc fullerene, trong đó cũng bao gồm cả buckyball. Trong khi buckyball có dạng hình cầu, một ống nano lại có dạng hình trụ, với ít nhất một đầu được phủ bởi một bán cầu có cấu trúc buckyball. Tên của chúng được đặt theo hình dạng của chúng, do đường kính của ống nano vào cỡ một vài nanomet (xấp xỉ nhỏ hơn 50.000 lần một sợi tóc), trong khi độ dài của chúng có thể lên tới vài milimet. Các nhà nghiên cứu ở đại học Cincinnati (UC) đã phát triển một quá trình để xây mạng thẳng hàng các ống nano cacbon cực dài. Họ đã có thể sản xuất các ống nano cacbon dài 18mm [1] và có thể xoắn lại thành các sợi nano cacbon. Có hai loại ống nano cacbon chính: ống nano đơn lớp (SWNT) và ống nano đa lớp (MWNT). Bản chất của liên kết trong ống nano cacbon được giải thích bởi hóa học lượng tử, cụ thể là sự xen phủ orbital. Liên kết hóa học của các ống nano được cấu thành hoàn toàn bởi các liên kết sp2, tương tự với than chì. Cấu trúc liên kết này, mạnh hơn các liên kết sp3 ở trong kim cương, tạo ra những phân tử với độ bền đặc biệt. Các ống nano thông thường tự sắp xếp thành các "sợi dây thừng" được giữ với nhau bởi lực Van der Waals. Dưới áp suất cao, các ống nano có thể trộn với nhau, trao đổi một số liên kết sp2 cho liên kết sp3, tạo ra khả năng sản ra các sợi dây khỏe, độ dài không giới hạn thông qua liên kết ống nano áp suất cao. [2] Mô hình 3D của ba loại ống nano cacbon đơn lớp. Hoạt hình cho thấy cấu trúc 3 chiều của một ống nanô. Các loại ống nano cacbon Đơn lớp Cách đặt tên ống nano (n,m) có thể tưởng tượng như là một vector (Ch) trong một tấm than chì vô hạn mà mô tả cách "cuộn" tấm than chì để tạo ống nano. T thể hiện trục của ống, và a1 với a2 là các vector đơn vị của graphene trong không gian thực Phần lớn các ống nano đơn lớp (SWNT-Single Wall Nanotube) có đường kính gần 1 nanomet, với độ dài đường ống có thể gấp hàng nghìn lần như vậy. Cấu trúc của một SWNT có thể được hình dung là cuộn một lớp than chì độ dày một-nguyên-tử (còn gọi là graphene) thành một hình trụ liền. Cách mà tấm graphene được cuộn như vậy được biểu diễn bởi một cặp chỉ số (n,m) gọi là vector chiral. Các số nguyên n và m là số của các vector đơn vị dọc theo hai hướng trong lưới tinh thể hình tổ ong của graphene. Nếu m=0, ống nano được gọi là "zigzag". Nếu n=m, ống nano được gọi là "ghế bành". Nếu không, chúng được gọi là "chiral". Ống nano đơn lớp là loại ống nano cacbon cực kì quan trọng bởi chúng thể hiện các tính chất điện quan trọng mà không ống nano đa lớp nào có được. Các ống nano đơn lớp là ứng cử viên sáng giá trong việc thu nhỏ kích thước sản phẩm ngành cơ điện từ cỡ micro hiện nay xuống còn nano. Sản phẩm căn bản của ngành này là dây điên, mà SWNT lại dẫn điện rất tốt[3]. Một ứng dụng hữu ích khác của SWNT là trong việc phát triển các transitor cảm ứng (FET-field effect transitor) nội phân tử. Việc sản xuất cửa luận lý (logic gate) đầu tiên sử dụng FET làm bằng SWNT gần đây đã trở thành hiện thực[4]. Bởi vì SWNT trở thành p-FET khi tiếp xúc với oxy và n-FET khi không tiếp xúc với oxy, chúng đều có thể bảo vệ một nửa SWNT khỏi bị tiếp xúc vói oxy, trong khi cho tiếp xúc với oxy nửa còn lại. Kết quả là một SWNT đơn có thể hoạt động như một cửa luận lý NOT với cả loại FET n và p trong cùng một phân tử. Ống nano đơn lớp vẫn có chi phí sản xuất cao, khoảng $1500 mỗi gam vào năm 2000, và việc phát triển các phương pháp tổng hợp hiệu quả hơn là rất cần thiết cho tương lai của công nghệ nano. Nếu không thể phát hiện các phương pháp tổng hợp rẻ hơn, nó sẽ trở thành cản trở về mặt tài chính trên con đường đưa ống nano đơn lớp ra ứng dụng trong thực tế.[5] Một vài nhà cung cấp phân phối SWNT arc discharge với khoảng $50-100 vào năm 2007. Ống nano đơn lớp (SWNT-Single Wall Nanotube) Ống nano đơn lớp (SWNT-Single Wall Nanotube) Đa lớp A single strand of carbon atoms (red) is contained in a multi-walled carbon nanotube. Thanh cacbon đa lớp Fullerite Torus A torus A torus is the product of two circles. A triple torus C.ỨNG DỤNG CỦA CÔNG NGHỆ NANO Bằng công nghệ nano, người ta có thể "nhét" tất cả thông tin của 27 cuốn Từ điển Bách khoa toàn thư của Anh nằm gọn trong một thiết bị chỉ bằng sợi tóc. Người ta cũng có thể chế tạo ra những con robot mà mắt thường không nhìn thấy được. Và, còn vô số điều kỳ lạ khác mà con người có thể khai thác nhờ vào công nghệ nano. Dưới đây là một số lĩnh vực đang hướng đến ứng dụng mạnh mẽ công nghệ nano : + Điện tử và cơ khí: Máy tính và bóng đèn nano Nhiều phòng thí nghiệm đang bắt tay vào nghiên cứu thế hệ máy tính nano, máy tính có các chi tiết được thiết kế bằng việc sắp xếp những nguyên tử mới có khả năng lưu giữ ( chứa được nhiều terabyte thông tin ), xử lý thông tin với tốc độ lớn hơn hiện nay rất nhiều lần và đặc biệt là giá thành rẻ. Các ống nano cũng có thể làm sợi tóc thắp sáng bóng đèn, do vậy mà chúng đang được phát triển để thay thế các bóng điện, các bảng hiển thị thông tin, màn hình máy tính, điện thoại di động. Các ống nano cũng cực kỳ vững chắc, có sức mạnh gấp mười lần thép và đặc biệt là kháng nhiệt, điều này có thể giúp con người sản xuất ra hàng loạt thiết bị cho ngành sản xuất xe hơi, máy bay và tàu vũ trụ. Các tập đoàn đang tham gia lĩnh vực này là Hewlet Parkard, IBM, Intel, Nano-Proprietary, Natero, NVE, Samsung, Zettacore, General Motors và Ford. +Y học: Robot nano đi vào cơ thể để chữa bệnh Các nhà khoa học về lĩnh vực nano đang hi vọng tạo ra một thế hệ robot thu nhỏ mà có thể chinh phục được mọi thách thức của cuộc sống. Trước tiên là trong y học, robot nano có thể dùng để chiến đấu chống virus, vi trùng. Chúng có thể đảm nhiệm là một nhà phẫu thuật hoàn hảo, được huy động để thực hiện kiểm soát hệ mao mạch và tiêu diệt các tế bào gây bệnh. Lợi ích chính của loại robot trong y học này là có thể phát hiện những dị dạng của tế bào và sửa chữa nó. Tuy nhiên, các nhà khoa học dự tính con người phải mất 25 năm nữa mới có thể triển khai những ứng dụng này. Các nhà khoa học Mỹ cũng đang chế tạo ra các phòng thí nghiệm siêu nhỏ mà có thể nằm gọn trong lòng bàn tay nhờ công nghệ nano. Những phòng thí nghiệm này có thể cho ngay những kết quả phân tích ở mọi bệnh tật, từ tiểu đường cho tới HIV. Trong công nghệ dược phẩm và hóa sinh, ứng dụng công nghệ nano, người ta có thể bào chế ra nhiều loại thuốc trên cơ sở cấu trúc nano để có thể tập trung chính xác vào khu vực cơ thể cần dùng đến thuốc. Đặc biệt, công nghệ nano trong tương lai còn có thể cho phép tạo ra những vật chất gần giống với cơ thể con người nhằm dùng thay thế những cơ thể bị hỏng của con người. Các công ty đang phát triển công nghệ này là BioPhan, General Electrics, Johnson & Johnson, LabNow, Nanokinetics, NASA và Quantum Dot. + Năng lượng: Pin nano-năng lượng sạch và rẻ Nhờ công nghệ nano, những loại pin mới có khả năng quang hợp nhân tạo sẽ giúp con người sản xuất năng lượng sạch. Với công nghệ nano, người ta cũng có thể chế tạo ra những thiết bị ít tiêu tốn năng lượng hơn do sử dụng những loại vật liệu nhỏ nhẹ hơn. Hơn nữa, các màng nano (với chi phí sản xuất rất thấp) hứa hẹn có thể hấp thụ được nhiều năng lượng mặt trời hơn quang điện hiện nay. Việc này có thể khởi động cho một cuộc cách mạng trong việc sử dụng năng lượng mặt trời. Hiện nay, các công ty đang tập trung vào nghiên cứu lĩnh vực này là Carbon Nanotechnologies, mPhase Technologies, NanoSolar, Nanosys và UltraDots. + Môi trường: Màng nano lọc nước thải Để giải quyết những vấn đề môi sinh, người ta có thể tạo ra những màng lọc các phân tử gây ô nhiễm nhỏ bé nhất. Công nghệ nano này giờ đây đang được áp dụng khá phổ biến ở Pháp để lọc nước thải. Những ứng dụng gần hơn với đời sống thường ngày là hiện nay một số công ty đã bắt tay vào sản xuất hạt nano dùng trong sơn, kính che nắng và ống carbon dùng trong công nghiệp điện tử. Các ống carbon này có thể sử dụng trong nhiều mặt hàng thông dụng như transitor, điện thoại di động, xe hơi và cả những mặt hàng mỹ phẩm. + Quốc phòng: Quân đội nano Quốc phòng cũng là một lĩnh vực đang rất chú ý đến nghiên cứu công nghệ nano. Giới quân sự Mỹ giờ đây đặc biệt quan tâm đến công nghệ này. Điều dễ hiểu là những thiết bị kỹ thuật siêu nhỏ có thể trở thành vũ khí nguy hiểm hơn cả bom nguyên tử. Với một đội quân vô hình và sự nhân bản, robot siêu nhỏ có thể tiêu diệt kẻ thù chỉ trong chớp nhoáng. Hiện nay, công nghệ nano đang là một thách thức đối với chiến lược phát triển khoa học ở nhiều nước, đặc biệt là những nước có nền khoa học phát triển như Mỹ, Đức, Pháp và Nhật Bản. Bước vào thế kỷ 21, các quốc gia phát triển đã tăng ngân sách đáng kể cho phát triển công nghệ nano. Vật liệu nano trong công nghệ chế tạo lốp Những ưu điểm vượt trội của vật liệu nano đang thu hút các hãng xe và ngành nghiệp phụ trợ vào cuộc cách mạng mới. Tuy mới chỉ ở mức độ thử nghiệm, nhưng với sự tham gia của các công ty hàng đầu và các hãng xe danh tiếng, tương lai của những chiếc lốp ứng dụng vật liệu nano sẽ không còn xa nữa. Cao su và cotton là những nông sản từ xa xưa. Tuy nhiên, không giống cotton, cao su thiên nhiên gặp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ từ cao su tổng hợp, loại vật liệu rất phát triển trong thế chiến thứ hai. Năm 1964, 75% lượng cao su trên thế giới thuộc về cao su tổng hợp. Nhưng sau đó, sự xuất hiện của lốp không săm đã cứu vớt vai trò của cao su thiên nhiên với lượng tiêu thụ 42% trong tổng số 19,61 triệu tấn, theo thống kê năm 2004. Khoảng 50% lốp xe ôtô trên thế giới được làm từ cao su thiên nhiên. Tuy nhiên, lốp sản xuất từ loại vật liệu này có những điểm yếu như không bền, dễ mài mòn, không chịu được nhiệt độ cao và mất dần tính đàn hồi trong quá trình sử dụng. Để khắc phục những khó khăn đó, các nhà nghiên cứu đã áp dụng công nghệ nano vào quá trình sản xuất xuất lốp. Hạt carbon nhỏ (bao gồm các hạt kích thước nano -1 phần một tỷ mét) được trộn với sao su trong một thời gian dài trước khi đem đi ép. Sản phẩm sau khi gia công có độ mài mòn thấp và sức bền lớn. Cabot Corporation - một trong những hãng cung cấp lốp và các vật liệu carbon hàng đầu thế giới - đã thử nghiệm thành công tính năng của “PureNano”- hạt silic cacbua kích thước nano, do Nanoproducts Corporation of Colorado sản xuất. Khi bổ sung vào lốp, các hạt “PureNano” làm giảm 50% độ mài mòn, nghĩa là tuổi thọ của lốp sẽ tăng lên gấp đôi. Một con số ấn tượng nếu biết rằng hiện tại, mỗi năm có 16,5 triệu chiếc lốp ở Mỹ cần phải thay mới. Các sản xuất khác đang tìm cách kết hợp sợi carbon dạng ống vào trong lốp và dự đoán chúng sẽ có tuổi thọ còn lâu hơn cả xe. Trong khi đó, các chuyên gia tại Audi đánh giá công nghệ nano sẽ tạo nên cuộc cách mạng lốp trong tương lai. Loại lốp thông minh gắn cảm biến nano liên kết với chíp điều khiển trung tâm sẽ có khả năng thay đổi cấu bề mặt tuỳ thuộc vào áp suất lốp, trọng lượng xe và điều kiện trên đường. Những công ty như Inmat và Nanonor đang sản xuất các hạt đất sét kích thước nano, trộn chúng với nhựa hay cao su tổng hợp để tạo ra một bề mặt kín khít. Các hạt đất sét nano của Inmat được sử dụng dưới dạng chất kết dính. Bên cạnh đó, công ty này cũng liên kết với Michelin, hãng sản xuất lốp hàng đầu thế giới để ứng dụng công nghệ này trên lốp không săm. Nó sẽ dần thay thế cao su truyền thống và làm lốp nhẹ, rẻ và mát hơn. Vật liệu siêu nhẹ Aerogel. Sản phẩm nổi tiếng ứng dụng công nghệ nano là “Aerogel”, vật liệu siêu nhẹ từng được đề nghị dùng để chế tạo lốp cho tàu thám hiểm sao Hoả. Chứa tới 98% không khí, tập hợp hàng tỷ các bóng khí nano trong môi trường silic, nhờ đó, Aerogel nhẹ hơn 1.000 lần nhưng lại có khả năng làm kín khít gấp 40 lần bất cứ sợi thuỷ tinh nào. Bên cạnh trọng lượng nhẹ, Aerogel còn có khả năng cách nhiệt. Các nhà hoá học tại đại học Missouri-Rolla (Mỹ) đã tuyên bố phát triển thành công vật liệu Aerogel không thấm nước có thể sử dụng trên bề mặt lốp. Goodyear đang nắm giữ hàng loạt bằng phát minh sáng chế về quá trình kết hợp lốp với silic aerogel. Bridgestone áp dụng công nghệ nano trên những chiếc lốp cung cấp cho Ferrari tại giải đua F1... Nền công nghiệp lốp thế giới do 5 “đại gia” nắm giữ bao gồm Michelin, Goodyear, Bridgestone, Continental, Sumitomo và tất cả đều đang chuẩn bị cho cuộc cách mạng mới trong tương lai không xa. Công nghệ nano giảm chi phí ĐTDĐ Nhà cung cấp điện thoại di động hàng đầu thế giới Nokia có thể sẽ bắt đầu ứng dụng công nghệ nano vào việc sản xuất sản phẩm của mình trong hai hoặc ba năm tới để giữ giá cả mặt hàng này ở mức được người tiêu dùng chấp nhận. “Để sản xuất 3 tỷ điện thoại di động cho toàn thế giới vào năm 2010, giá cả của sản phẩm chúng tôi phải được điều chỉnh ở mức mới”, giám đốc chiến lược của hãng Nokia, ông Tero Ojanpera cho biết. “Giá điện thoại dưới 150 euro (tương đương khoảng 3 triệu đồng) là một phần rất quan trọng của chúng tôi trong việc tìm kiếm các giải pháp giá cả hiệu quả. Chúng có thể được thực hiện nhờ vào công nghệ nano”, Ojanpera nói thêm. Công nghệ nano là công nghệ hiện đại cho phép thao tác với kích thước chỉ một phần tỷ mét hứa hẹn đem lại nhiều lợi ích, không chỉ cho các hoạt động khoa học, công nghiệp mà còn cả hoạt động y tế. Ojanpera cho biết trong giai đoạn đầu Nokia chỉ ứng dụng công nghệ nano để sản xuất vỏ điện thoại. Trong tình hình thị trường điện thoại di động hiện nay, yêu cầu lớn nhất đặt ra cho các công ty là rẻ hơn, kiểu dáng hiện đại hơn, bền hơn và những yêu cầu này đang ngày càng cạnh tranh khốc liệt hơn với yếu tố lợi nhuận, buộc các nhà sản xuất phải tìm giải pháp mới. Công nghệ nano được một số công ty xem là giải pháp tối ưu nhất để tăng năng suất sản xuất và giảm tối đa chi phí. Tạo phân tử nano vàng Các nhà khoa học tại học ĐH Missouri (Mỹ) cho biết đã tìm ra cách tạo các phân tử nano vàng bằng cách sử dụng muối vàng, đậu nành và nước. Nghiên cứu này đã gây sự chú ý của giới khoa học trên khắp thế giới vì hiệu quả, tính thân thiện với môi trường và có thể ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Phân tử nano vàng là những phần tử rất nhỏ của vàng không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Các phân tử nano vàng thường được các nhà nghiên cứu sử dụng trong việc phát hiện và điều trị ung thư, điều trị các bệnh về mắt liên quan đến di truyền, phát triển thế hệ xe ôtô xanh, các sản phẩm điện tử thông minh... Lâu nay, các công ty công nghệ nano luôn mong muốn chế tạo nhiều sản phẩm kích thước nano. Tuy nhiên các nhà khoa học lại tỏ ra lo lắng do phương pháp sản xuất các sản phẩm nano hiện nay tác động xấu đến môi trường. Với phương pháp của các nhà khoa học ĐH Missouri, hạn chế này đã được khắc phục do công nghệ hoàn toàn sử dụng những gì có sẵn trong tự nhiên. 29% số người có câu trả lời là đã biết nano có hiểu biết khá tốt về công nghệ này và có thể đưa ra một kiểu định nghĩa nào đó. 69% cho rằng kỹ thuật cấu trúc siêu nhỏ sẽ đem lại những lợi ích lớn trong tương lai. Giáo sư Nick Pidgeon, thành viên của một nhóm công tác chuyên về nano của Royal Society, nói: “Công nghệ liên quan đến vấn đề quy mô siêu nhỏ. Mỗi một nanomet chỉ bằng một phần triệu millimet về độ dài. Cũng chẳng có gì là quá ngạc nhiên khi nhiều người chưa bao giờ biết đến nano bởi thực ra đây vẫn là một lĩnh vực khoa học non trẻ”. Công nghệ nano hấp dẫn các nhà khoa học vì nó đem lại khả năng phát triển những máy tính cực nhỏ và nhiều thiết bị y tế siêu mini. Tuy nhiên, nó cũng làm dấy lên mối lo ngại về một nguy cơ tưởng tượng mà trong đó những phần tử nano với khả năng tự nhân bản ra các robot sẽ chiếm lĩnh thế giới của loài người. Nhiều người ủng hộ tin rằng nano sẽ rất hữu ích trong y tế đối với công tác chẩn đoán và điều trị ban đầu, nhưng cũng quan ngại về độ tin cậy của nó, nhất là những tác dụng phụ về lâu dài. nguồn: hoiquandientu.com |
![]() |
|
|
|
Nov 27 2012, 06:31 PM Post #2 |
![]()
|
Bài viết này viết rối và thiếu chính xác quá Cat. Đọc chơi cho vui thôi nhe em! |
Vì một DDKHVL vững mạnh toàn diện Gõ các ký tự Hy Lạp cho diễn đàn : http://greek.typeit.org/[Hidden Content: Login/Register to View] | |
![]() |
|
|
|
Nov 27 2012, 09:48 PM Post #3 |
![]()
|
dài quá chịu không nổi lun! ![]() |
![]() |
|
|
|
Nov 29 2012, 09:09 PM Post #4 |
![]()
|
dạ cảm ơn thầy. hihi. mấy hôm nay em làm bài báo cáo nên tiềm đọc nhiều, thấy bài này hay hay up cho mọi người cùng đọc ai dè nó lại viết rối quá. lĩnh vực này tài liệu dã ít mà lại khó hiểu quá thầy ơi. |
![]() |
|
|
|
Nov 29 2012, 10:41 PM Post #5 |
![]()
|
Thầy có upload lên diễn đàn 2,3 quyển ebook về công nghệ nano. Họ viết tốt đó em. Tìm đọc trong phần chia sẻ ebook ấy. |
Vì một DDKHVL vững mạnh toàn diện Gõ các ký tự Hy Lạp cho diễn đàn : http://greek.typeit.org/[Hidden Content: Login/Register to View] | |
![]() |
|
|
|
Nov 30 2012, 10:24 PM Post #6 |
![]()
|
dạ vậy để em tải về đọc chứ trên mạng viết rối quá, cảm ơn thầy nhiều |
![]() |
|
| 1 user reading this topic (1 Guest and 0 Anonymous) | |
| « Previous Topic · Chia sẻ tài liệu · Next Topic » |
| Theme: DdKhvl | Track Topic · E-mail Topic |
7:22 AM Jul 11
|

. Cảm ơn bạn đã quan tâm đến diễn đàn.



Gõ các ký tự Hy Lạp cho diễn đàn : 

7:22 AM Jul 11